Đăng nhập

 

Liên kết website
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn để xác định địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội chuyên trách trong giai đoạn hiện nay

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐỂ XÁC ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐOÀN ĐBQH
VÀ ĐBQH CHUYÊN TRÁCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
(Bài tham luận tại Hội thảo ngày 6-7/9/2012 do Ban Công tác đại biểu tổ chức)



 

TS.Huỳnh Thành Lập


Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Trưởng Đoàn ĐBQH TP.HCM



 

Trong những năm qua, quá trình đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội đã đạt được những kết quả quan trọng, trong đó có sự góp phần tích cực của các Đoàn ĐBQH và ĐBQH chuyên trách. Tuy nhiên, vai trò, vị trí pháp lý của 2 chủ thể này vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cả về mặt lý luận, thực tiễn và quy định pháp luật có liên quan.


I-Một số vấn đề về địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội


1-Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội

 

Đoàn đại biểu Quốc hội là hình thức tổ chức đặc thù của Quốc hội nước ta. Ngay từ kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá I, với mục đích làm cho kỳ họp Quốc hội được tiến hành thuận lợi, "Đoàn đại biểu Quốc hội được hình thành theo các đơn vị hành chính khu hoặc liên khu để đại biểu Quốc hội được bầu trong đơn vị hành chính liên hệ với Đoàn Chủ tịch kỳ họp, trao đổi ý kiến trong nhóm về những vấn đề liên quan đến kỳ họp" .


Từ đó đến nay, pháp luật ngày càng có những quy định cụ thể, đầy đủ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH. Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách, có Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu và được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn, có kinh phí hoạt động, có trụ sở, con dấu và Văn phòng giúp việc.


Địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội thể hiện qua các nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành (Luật tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội…), gồm các nội dung chính như sau:


- Tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của mình tại địa phương trong các mặt hoạt động: tiếp xúc cử tri; tiếp công dân, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tổ chức thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh; dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội.


- Phối hợp với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ở địa phương tổ chức các hoạt động của Đoàn và của đại biểu Quốc hội trong Đoàn. Nghiên cứu đề xuất với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan nhà nước có liên quan nghiên cứu, xem xét và có biện pháp giải quyết các kiến nghị của Hội đồng nhân dân liên quan đến chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc các vấn đề của địa phương.


- Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá sau;


- Báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội,


- Trong quá trình tổ chức các hoạt động tại địa phương, Đoàn đại biểu Quốc hội có quyền góp ý với địa phương về việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương; yêu cầu cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương cung cấp thông tin về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; xem xét và giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thi hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân hoặc những vấn đề khác liên quan đến đời sống, kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương.


- Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành giám sát thông qua các hoạt động: Tổ chức Đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội, tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm; cử đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu.


Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ: chủ trì việc tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội; giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở địa phương ở địa phương và Văn phòng Quốc hội; chỉ đạo công tác Văn phòng phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Phó Trưởng đoàn giúp Trưởng đoàn thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn. Khi Trưởng đoàn vắng mặt thì Phó Trưởng đoàn được Trưởng đoàn uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của Trưởng đoàn.


Địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH là vấn đề được quan tâm thảo luận trong các năm qua. Về mặt lý luận, hầu như các ý kiến đều thống nhất cho rằng Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là cơ quan của Quốc hội, không phải là cấp quản lý đại biểu. Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ là hình thức tổ chức cho đại biểu Quốc hội hoạt động, nếu quá nhấn mạnh vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương sẽ không đề cao được trách nhiệm của cá nhân đại biểu Quốc hội và có thể biến diễn đàn của Quốc hội thành diễn đàn của các Đoàn đại biểu Quốc hội; có ý kiến cho rằng hình thức tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội "tiềm ẩn rủi ro xung đột lợi ích giữa các nhóm đại biểu ở các địa phương, giữa địa phương và trung ương" . Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, có thể thấy nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội được thể hiện thành 2 nhóm : (1) Nhóm nhiệm vụ quyền hạn trong việc tổ chức, điều phối, hỗ trợ các hoạt động của đại biểu Quốc hội; (2) Nhóm nhiệm vụ quyền hạn độc lập nhân danh Đoàn ĐBQH, tập thể ĐBQH trong một số hoạt động như giám sát, xây dựng pháp luật… Về mặt tổ chức, Đoàn đại biểu Quốc hội có các yếu tố của một pháp nhân công: có Trưởng Đoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, kinh phí hoạt động, con dấu và Văn phòng giúp việc.


Có thể thấy rằng, giữa lý luận và thực tiễn tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội thời gian qua vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau chưa được làm rõ. Đơn cử, khi xây dựng Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, tuy không xác định Đoàn đại biểu Quốc hội là một chủ thể giám sát độc lập, nhưng Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong Báo cáo tiếp thu, giải trình về dự thảo Luật trước khi Quốc hội thông qua cho rằng "cần quy định rõ hơn về vai trò, nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc tổ chức hoạt động giám sát của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn và hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội" . Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội với một số điều quy định thẩm quyền giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội (các điều 3, 39, 41, 42, 43, 44), mà nếu nghiên cứu kỹ các nội dung này sẽ thấy không có sự khác biệt lớn so với thẩm quyền giám sát của đại biểu Quốc hội- một chủ thể giám sát độc lập (trừ quyền chất vấn và kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, quyền giám sát văn bản quy phạm pháp luật cấp Trung ương).


Không khó lý giải cho thực trạng trên, đó là do điều kiện đặc thù của Quốc hội nước ta, đa số đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, mô hình tổ chức Đoàn đại biểu Quốc hội được đánh giá là tương đối phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay, nhất là trong việc tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội hoạt động và giữ mối quan hệ công tác, phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan. Trên thực tế, các Đoàn đại biểu Quốc hội đã ngày càng thực hiện có hiệu quả hơn các mặt hoạt động của mình, góp phần quan trọng vào kết quả hoạt động chung của Quốc hội.


2-Thực tiễn tổ chức hình thức Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương những năm qua bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc như sau:


 

2.1- Mối quan hệ giữa Đoàn đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị địa phương chưa được quy định rõ. Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ có một số quy định chung về việc Đoàn đại biểu Quôc hội quan hệ chặt chẽ với Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương được mời dự các cuộc họp thường kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tuy nhiên, Luật tổ chức HĐND và UBND không có quy định về các nội dung này, mà chỉ quy định việc phối hợp giữa các chủ thể Thường trực HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Do đó, có nội dung Uỷ ban nhân dân mời đại diện Đoàn ĐBQH dự họp, nhưng cũng có nội dung quan trọng Đoàn ĐBQH không được mời tham dự. Một số kỳ họp Hội đồng nhân dân, tập thể đại biểu Quốc hội trong Đoàn được mời dự, nhưng không được cung cấp tài liệu... Trưởng Đoàn ĐBQH là Tổ trưởng Đảng, nhưng chịu sự lãnh đạo của Đảng đoàn Quốc hội, hoặc cấp uỷ địa phương như thế nào chưa được quy định cụ thể.


2.2- Cơ cấu tổ chức Đoàn ĐBQH có Trưởng Đoàn, Phó Trưởng Đoàn. Tuy nhiên, Trưởng, Phó Đoàn chỉ giữ vai trò điều phối hoạt động chung của Đoàn, giữ mối liên hệ với đại biểu Quốc hội trong Đoàn. Quy định như vậy xuất phát từ nguyên tắc đại biểu Quốc hội hoạt động "ngang quyền", Trưởng Đoàn không phải là Thủ trưởng của đại biểu Quốc hội trong Đoàn, không hành chính hóa tổ chức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, thực tế có đại biểu không đảm bảo việc thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo phân công của Đoàn và các chương trình, kế hoạch công tác đã được tập thể Đoàn thông qua: nhiều cuộc hội thảo xây dựng luật có ít đại biểu tham gia; hoặc gần đến khi tiếp công dân theo lịch thì đại biểu báo vắng mặt do bận công tác; trong kỳ họp Quốc hội cũng có đại biểu vắng mặt tại phiên họp để về địa phương giải quyết công việc cơ quan... Tất cả những trường hợp này, Trưởng Đoàn chỉ có thể trao đổi, nhắc nhở mà không có cơ chế khả thi để đôn đốc đại biểu Quốc hội thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình.


2.3 - Bộ máy tham mưu giúp việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội thiếu ổn định về mô hình tổ chức, nhân sự còn ít, chưa đáp ứng tốt nhất cho công tác tham mưu, phục vụ Đoàn đại biểu Quốc hội. Việc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI ban hành Nghị quyết 416 về thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là bước đổi mới quan trọng để xây dựng bộ máy giúp việc mạnh, hoàn chỉnh. Tuy nhiên, khi chưa có tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 416 thì Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội đã sáp nhập vào Văn phòng chung là Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo Nghị quyết 545. Việc sáp nhập mang tính chất cơ học, chẳng những không tinh giảm được đầu mối, bộ máy, mà còn bộc lộ rất nhiều vướng mắc, bất cập như Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII đã đánh giá : "Thực tế cho thấy chất lượng, hiệu quả công tác tham mưu, phục vụ của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và xét về mặt pháp lý bộ máy dân cử, mô hình tổ chức văn phòng chung này đã hạn chế vai trò tham mưu, giúp việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội với tư cách là đại biểu của cả nước hoạt động tại địa phương; đội ngũ cán bộ còn thiếu, nhất là ở bộ phận công tác đại biểu Quốc hội; chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức trong Văn phòng chưa thống nhất…"


3-Một số đề xuất


 

Chúng tôi cho rằng, về lâu dài đổi mới hoạt động của Quốc hội phải dựa trên hai trụ cột chính là các Uỷ ban và các đại biểu Quốc hội, đặc biệt là phát huy tính chủ động, tích cực và trách nhiệm của từng đại biểu Quốc hội. Vì vậy, trong điều kiện đặc thù của nước ta, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, không thực hiện tam quyền phân lập nhưng có sự phân công, phối hợp thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, và cơ chế thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn có vai trò quan trọng trong tổ chức hoạt động của các đại biểu Quốc hội ở địa phương. Đồng thời, các văn kiện của Đảng đều xác định sự cần thiết nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội trong thời gian tới.


Do đó, cần tập trung xử lý các vấn đề về lý luận và thực tiễn đã rõ, chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội như sau:


3.1- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có hướng dẫn cụ thể về mối quan hệ giữa Đoàn ĐBQH với HĐND, UBND, UBMTTQ tại địa phương.


3.2- Làm thế nào để khắc phục biểu hiện quá nhấn mạnh đến vai trò, vị trí của Đoàn ĐBQH, tránh việc ĐBQH dựa dẫm, ỷ lại vào Đoàn? Chúng tôi cho rằng, cần rà soát lại các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn và của ĐBQH để có sự tách bạch, minh định rõ, không nên có quá nhiều quy định chung chung như nhau cho cả 2 chủ thể này như hiện nay sẽ gây nhập nhằng trách nhiệm, khó thực hiện trong thực tế, đặc biệt là trong hoạt động giám sát. Ví dụ, trong giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, cần quy định phạm vi, mức độ nào thuộc thẩm quyền của Đoàn ĐBQH, phạm vi, mức độ nào thuộc thẩm quyền của đại biểu Quốc hội, nhằm đảm bảo tăng cường vừa giám sát các vụ việc cụ thể, vừa giám sát tình hình thi hành pháp luật tại địa phương, vừa tiến hành các giám sát chuyên đề về các lĩnh vực có liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và thường phát sinh khiếu nại đông người như đất đai, xây dựng, chính sách đền bù, giải tỏa….


3.3- Để đảm bảo thực hiện đúng vị trí, vai trò của Đoàn là hình thức tổ chức hoạt động của tập thể đại biểu Quốc hội trong Đoàn, cần quy định rõ hơn về quy trình, thủ tục ban hành các văn bản kiến nghị nhân danh Đoàn đại biểu Quốc hội. Các nội dung kiến nghị của Đoàn ĐBQH với các cơ quan hữu quan cần được thảo luận tập thể, lấy ý kiến đại biểu Quốc hội theo nguyên tắc đa số.


3.4- Tuy không phải là cơ quan thuộc Quốc hội, không phải là cấp quản lý đại biểu, song cần có các quy định cụ thể hơn về vai trò, nhiệm vụ của Trưởng, Phó Đoàn và việc ĐBQH thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Đoàn.


Vấn đề cần quan tâm là: chế độ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội đối với cử tri cần được quy định cụ thể hơn để cử tri giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội. Hiện nay, khi ứng cử đại biểu Quốc hội, các ứng cử viên đều có Chương trình hành động và đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, khi trúng cử, thì luật chỉ quy định chung chung về việc hàng năm, đại biểu Quốc hội báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Do đó, cử tri khó có thể biết được đại biểu Quốc hội trong năm qua đã thực hiện nhiệm vụ như thế nào, có những đóng góp gì cho hoạt động của Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội. Đề nghị khi sửa Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội cần quy định cụ thể các nội dung về cơ chế đánh giá việc thực hiện trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, trong đó có vai trò của Trưởng, Phó Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia vào cơ chế này. Nên chăng, trong công tác đánh giá cán bộ hàng năm, cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức là ĐBQH cần có văn bản lấy ý kiến Trưởng, Phó Đoàn về quá trình thực hiện nhiệm vụ của đại biểu trong năm. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cần có quy định và hướng dẫn cụ thể để các Đoàn ĐBQH đánh giá hoạt động của ĐBQH thông qua việc tham gia các hoạt động tại Đoàn.


3.5- Khẩn trương tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 545, cho phép việc thành lập lại Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội để nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội. Trước mắt, xin phép cho thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức thí điểm việc tách Văn phòng, tái lập Văn phòng Đoàn ĐBQH thành phố. Ngày 24/8/2012, lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức báo cáo kiến nghị thí điểm việc tách Văn phòng, tái lập Văn phòng Đoàn ĐBQH thành phố tại buổi làm việc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng với lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.


II-Một số vấn đề về địa vị pháp lý của ĐBQH chuyên trách


1-Quy định pháp luật về địa vị pháp lý của ĐBQH chuyên trách

 

Chế định về đại biểu Quốc hội chuyên trách là bước đổi mới, góp phần rất quan trọng trong trong việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong những năm qua.


Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 quy định : Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách do Quốc hội quyết định ; ở các Đoàn đại biểu Quốc hội, thì "mỗi Đoàn có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách" .


Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII đã nêu chủ trương "từng bước tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách". Thể chế hoá chủ trương này, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 quy định: "Trong số các đại biểu Quốc hội, có đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội" .


Quy định pháp luật hiện hành không có định nghĩa, giải thích về khái niệm "đại biểu Quốc hội chuyên trách". Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta, có thể nêu một số đặc điểm của đại biểu Quốc hội chuyên trách như sau:


+Khác với đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm, đại biểu Quốc hội chuyên trách là đại biểu thường xuyên làm nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và công việc chính được thực hiện thường xuyên trong phạm vi, lĩnh vực được phân công tại các cơ quan của Quốc hội, Ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.


+Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội, trong đó xác định thời gian thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH là công việc (tác nghiệp) chính hàng ngày.


+Đại biểu Quốc hội chuyên trách hưởng lương và các khoản phụ cấp và các điều kiện đảm bảo khác từ kinh phí hoạt động của Quốc hội.


Như vậy, ĐBQH chuyên trách và ĐBQH không chuyên trách có sự khác biệt về thời gian, địa chỉ công tác, nguồn trả lương, và xét về địa vị pháp lý, ĐBQH chuyên trách và không chuyên trách có vị trí như nhau về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu vì đều là người đại diện cho nhân dân trong Quốc hội và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội. Việc pháp luật quy định một số điều kiện bảo đảm riêng cho ĐBQH chuyên trách như trên chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ĐBQH chuyên trách làm việc, không tạo cho ĐBQH chuyên trách một vị trí cao hơn so với các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm.


2-Một số nhận xét về hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương trong thời gian qua


 

Trên cương vị công tác và phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin nêu một số điểm chính về những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương.


2.1-Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, điều kiện công tác, chế độ chính sách và cơ chế bảo đảm cho hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách từng bước được cải tiến, là yếu tố thuận lợi tạo điều kiện cho các đại biểu chuyên trách ở địa phương phát huy trách nhiệm, năng lực của mình. Thực tiễn các nhiệm kỳ qua cho thấy việc tăng thêm số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các Ủy ban của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương là chủ trương đúng đắn, đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội (khóa XI, số lượng Đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm tỷ lệ 23,69% tổng số đại biểu Quốc hội; khóa XII, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm tỷ lệ 27,99% tổng số đại biểu Quốc hội; khoá XIII, số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm tỷ lệ 33% tổng số đại biểu Quốc hội) . Các vị đại biểu Quốc hội chuyên trách đã ngày càng khẳng định rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội.


Trong điều kiện hoạt động còn nhiều hạn chế cả về bộ máy giúp việc và kinh phí bảo đảm, nhưng với tinh thần trách nhiệm cao trước cử tri, trước nhân dân, các đại biểu chuyên trách đã có nhiều nỗ lực thực hiện nhiệm vụ, giữ mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội, các cấp chính quyền, mặt trận, đoàn thể ở địa phương, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong công việc, đóng vai trò nòng cốt, đầu mối để tổ chức các hoạt động của Đoàn và của ĐBQH trong Đoàn; có nhiều đóng góp tích cực trong thảo luận các nội dung thuộc chương trình nghị sự của Quốc hội và giám sát việc thực thi pháp luật tại địa phương.


Có thể khẳng định: trong điều kiện hiện nay, nếu không có vai trò nòng cốt, trách nhiệm của các vị đại biểu Quốc hội chuyên trách, thì hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, của đại biểu Quốc hội ở địa phương sẽ không thể đảm bảo được chương trình, tiến độ đề ra, cũng như khó đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.


2.2-Bên cạnh những mặt thuận lợi, thực tiễn hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể là:


 

- Pháp luật chỉ quy định rất chung về quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Mặc dù Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH có quy định đại biểu Quốc hội chuyên trách được mời dự các hội nghị, lớp học, tập huấn theo chức danh lãnh đạo địa phương, song nhìn chung vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội chuyên trách còn chưa cụ thể, nhất là trong các vấn đề: mối quan hệ, vị trí của đại biểu Quốc hội chuyên trách trong hệ thống chính trị ở địa phương; mối quan hệ của Trưởng, Phó Đoàn chuyên trách với đại biểu Quốc hội trong Đoàn; cấp nào quản lý, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, chế độ khen thưởng đối với đại biểu Quốc hội chuyên trách…Đây là tâm tư của nhiều đại biểu Quốc hội chuyên trách khi đứng trước câu hỏi: Đại biểu Quốc hội chuyên trách, Anh là ai?


-Khối lượng công việc rất nặng nề, nhưng đại biểu Quốc hội chuyên trách hầu như phải "tự bơi", tự nỗ lực trong hoạt động do thiếu chuyên gia, đội ngũ giúp việc. Bộ máy giúp việc của Văn phòng quá ít, chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phục vụ tốt nhất cho các hoạt động chung của Đoàn và của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Do đó, không thể tránh khỏi việc quá tải và mất nhiều thời gian cho giải quyết việc sự vụ trong hoạt động.


-Kinh phí dành cho hoạt động của ĐBQH chuyên trách tại địa phương còn rất hạn hẹp, cơ chế và những quy định về thẩm quyền tham vấn và chi phí cho việc huy động chuyên gia chưa cụ thể, chưa thành một chế độ phổ biến, do đó rất khó khăn trong việc huy động chuyên gia, cơ quan chuyên môn nghiệp vụ có liên quan để giúp thông tin, tham mưu cho hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách.


-Tham gia đóng góp tích cực cho hoạt động của Quốc hội, tuy nhiên ngoài lương và chế độ phụ cấp, các chế độ còn lại trong hoạt động của đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương (tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, xây dựng pháp luật, giám sát, chế độ tham dự kỳ họp Quốc hội…) không có gì khác so với đại biểu kiêm nhiệm.


3- Một số đề xuất


 

-Định hướng lâu dài trong tổ chức, hoạt động Quốc hội là chuyển chế độ hoạt động của đại biểu Quốc hội từ kiêm nhiệm là chủ yếu sang chế độ hoạt động thường xuyên. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, cần tiếp tục sửa đổi đồng bộ Luật Tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, trong đó chú trọng việc tiếp tục tăng cơ cấu số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, gắn với chất lượng, đặc biệt là tăng số đại biểu chuyên trách có quá trình thực tiễn được Đảng quy hoạch, đào tạo, rèn luyện và chuẩn bị.


-Quy định pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện theo hướng quy định rõ hơn các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu đại biểu để thực sự lựa chọn được những người đủ đức, tài, có năng lực làm đại diện cho cử tri tham gia Quốc hội, nhất là trong quy hoạch, cơ cấu đại biểu Quốc hội chuyên trách. Quan trọng hơn cả là trong một cơ cấu hợp lý phải đảm bảo tiêu chuẩn, năng lực thật sự của các ứng cử viên, không vì đảm bảo cơ cấu mà giới thiệu ứng cử viên đảm bảo tiêu chuẩn nhưng lại có sự "du di", "châm chước" năng lực, năng khiếu làm chức năng đại biểu.


- Các văn bản pháp luật hiện hành cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các ĐBQH chuyên trách, mối quan hệ giữa Trưởng Đoàn, Phó Trưởng Đoàn với các đại biểu Quốc hội và mối quan hệ giữa Đoàn ĐBQH với cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, đoàn thể ở địa phương.


- Các đại biểu Quốc hội chuyên trách cần được đảm bảo các điều kiện về nơi làm việc, phương tiện đi lại, phương tiện kỹ thuật, từng bước xây dựng cơ chế thư ký cho đại biểu chuyên trách và cơ chế tài chính để đại biểu chuyên trách sử dụng trong việc thuê, hợp đồng, khoán việc đối với chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực nhằm trợ giúp hoạt động cho đại biểu trong những trường hợp cụ thể. Chế độ cho đại biểu Quốc hội chuyên trách cần được giải quyết thỏa đáng, có thang bảng lương cho đại biểu Quốc hội chuyên trách, không phiên theo hệ lương của cán bộ công chức và hưởng phụ cấp và không nên có sự phân biệt về chế độ đãi ngộ giữa đại biểu Quốc hội chuyên trách ở Trung ương và đại biểu Quốc hội chuyên trách tại địa phương như hiện nay. Đối với đại biểu Quốc hội chuyên trách cũng cần tính độ tuổi làm việc, không như cán bộ công chức, vì lao động tác nghiệp của ĐBQH là hoạt động rất đặc biệt, đặc thù: tuổi đời cao với trải nghiệm hơi thở cuộc sống xã hội, kinh nghiệm thực tiễn giúp cho việc đóng góp ý kiến lập pháp và giám sát càng trí tuệ và xác đáng. Bảo đảm các điều kiện hoạt động của ĐBQH chuyên trách cần chú trọng đến việc quy định cụ thể các chính sách, chế độ trong thời gian đương nhiệm và các chính sách, chế độ sau khi hết nhiệm kỳ hoặc thôi làm nhiệm vụ ĐBQH, có như vậy mới tạo được sự động viên, điều kiện tốt nhất cho đại biểu Quốc hội chuyên trách thực hiện chức trách, nhiệm vụ.


- Kiện toàn, củng cố bộ máy giúp việc cho Đoàn đại biểu Quốc hội nói chung, đại biểu Quốc hội chuyên trách nói riêng theo hướng thành lập Văn phòng Đoàn ĐBQH như đã kiến nghị ở trên.


 

CÁC TIN BÀI KHÁC:
thông tin cần biết
Chương trình công tác năm 2020 của Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh



Báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh năm 2019



Báo cáo hoạt động Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV



Lịch tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 8 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019


Hình ảnh hoạt động
Số lượt truy cập
06029310




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn