Đăng nhập

 

Liên kết website
NỘI DUNG CÁC CUỘC GIÁM SÁT, KHẢO SÁT
Kết quả giám sát việc thực hiện Luật Trẻ em 2016 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

               Thực hiện Kế hoạch giám sát số 05 /KH-ĐĐBQH, ngày 10 tháng 7 năm 2019, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức 04 buổi làm việc với Ủy ban nhân dân Quận 1, Ủy ban nhân dân Quận 12, Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố và các Sở, ngành có liên quan giám sát về việc thực hiện Luật trẻ em năm 2016 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Dưới đây là báo cáo kết quả giám sát:

I. Tình hình chung về trẻ em trên địa bàn Thành phố

Theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố, tính đến tháng 6 năm 2019, tổng số trẻ em trên địa bàn thành phố có 2.052.279 trẻ em, trong đó có 1.057.334 trẻ em trai, chiếm tỷ lệ 51,52% và 994.945 trẻ em gái, chiếm tỷ lệ 48,48%[1].

Hiện nay, tổng dân số thành phố ước tính khoảng 13 triệu người, hàng năm tăng khoảng 130.000 người dân nhập cư từ các tỉnh, thành khác; theo đó, việc cập nhật thông tin, dữ liệu biến động về trẻ em gặp nhiều thách thức[2], đây là một trở ngại rất lớn trong công tác phối hợp hỗ trợ cho trẻ em trên địa bàn thành phố. Xuất phát từ thực tế trên, Thành phố đang tiến hành khảo sát và hoàn thiện nhập cơ sở dữ liệu sổ theo dõi, quản lý trẻ em trên địa bàn thành phố; trong đó có 14 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị bạo lực xâm hại. Đây là nguồn dữ liệu cơ bản để quản lý, chuyển tuyến hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn giữa các phường, xã trong một quận, huyện và giữa quận, huyện trên địa bàn thành phố.

Tính đến cuối năm 2018, Thành phố có 11.392 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (chiếm khoảng 0,56% tổng số trẻ em, trong đó có 2.342 trẻ em được chăm sóc thay thế tại các cơ sở bảo trợ xã hội và hơn 9.000 trẻ tại cộng đồng); khoảng 30.000 trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt[3] và 474.019 trẻ em dưới 15 tuổi đăng ký tạm trú trên địa bàn thành phố[4].

Trong những năm qua, Thành phố đã có những chỉ đạo quyết liệt trong giải quyết tình trạng người lang thang xin ăn không có nơi cư trú ổn định, người sống nơi công cộng không có nơi cư trú ổn định trên địa bàn thành phố. Theo số liệu thống kê, từ năm 2015 đến 6 tháng đầu năm 2019 874 trẻ em bỏ nhà đi lang thang, không có nơi cư trú ổn định được đưa vào Trung tâm Bảo trợ xã hội thành phố trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

II. Tình hình triển khai thi hành Luật Trẻ em

1. Công tác quản lý nhà nước về Trẻ em:

1.1- Công tác tham mưu:

  Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố, Sở đã phối hợp với các Sở, ban, ngành và quận, huyện tham mưu cho Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về công tác trẻ em. Trong đó, công tác phòng, chống bạo lực xâm hại trẻ em được Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo cụ thể bằng việc phân công trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị triển khai các giải pháp đảm bảo quyền trẻ em được thực thi hiệu quả nhất; nhiều mô hình và cách làm sáng tạo của các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư đã tạo điều kiện cho trẻ em được tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội phù hợp với lứa tuổi, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em trên địa bàn thành phố.

Tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Kế hoạch số 2923/KH-UBND ngày 16 tháng 5 năm 2017 về triển khai Kế hoạch truyền thông Luật Trẻ em và phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em; đồng thời tiếp tục tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả 11 chương trình có liên quan đến công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, các hoạt động được lồng ghép vào 02 chương trình trọng tâm, cụ thể: (i) Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em giai đoạn 2016 – 2020; (ii) Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em thành phố giai đoạn 2013- 2020.

1.2- Sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân các cấp:

Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em của Thành phố tiếp tục tập trung vào một số nội dung trọng tâm nhằm thực hiện hiệu quả các Quyết định, Chương trình bảo vệ trẻ em của thành phố. Thành phố đã huy động nhiều nguồn lực cùng quan tâm và chung tay, góp sức chăm lo tốt hơn cho trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nghèo ở vùng ven, ngoại thành ngày càng được đầu tư hơn. Số lượng trẻ em được hưởng các dịch vụ công về giáo dục, học tập, chăm sóc sức khỏe, tham gia các hoạt động vui chơi giải trí miễn phí ngày càng nhiều; phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển; những trẻ có nguy cơ được bảo vệ tránh rơi vào hoàn cảnh đặc biệt ngày càng tốt hơn; cơ sở vui chơi giải trí trong những năm gần đây được đầu tư và tăng lên đáng kể, qua đó giúp cho các em có cơ hội được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí nhằm phát triển hơn về thể chất, trí tuệ và tâm hồn.

1.3- Công tác tuyên truyền Luật Trẻ em:

Thành phố đã tăng cường truyền thông, phổ biến Luật Trẻ em, Nghị định 56/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan đến trẻ em nhằm thu hút sự quan tâm hơn nữa của toàn xã hội trong công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, đặc biệt là công tác phòng ngừa, giảm thiểu số trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực về thể chất lẫn tinh thần; thông tin về các địa chỉ tiếp nhận, giải quyết, trợ giúp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em là nạn nhân của xâm hại, bạo lực, nhằm góp phần đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em trên địa bàn Thành phố.

Xác định công tác truyền thông, phổ biến pháp luật là một nhiệm vụ trọng tâm giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả của công tác triển khai, góp phần đưa Luật vào thực tiễn, do đó các Sở, ngành, đoàn thể Thành phố đầu tư khá tốt trong việc tiếp cận, tác động đến nhiều đối tượng. Nhiều đơn vị như Công an Thành phố, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân Quận 12 đã có nhiều giải pháp hay, hình thức tuyên truyền sinh động, dễ nhớ. Về cơ bản, số cán bộ làm công tác tuyên truyền và cán bộ bảo vệ, chăm sóc trẻ em từ Thành phố đến cơ sở đều được tập huấn, bổ sung kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng cần thiết. Đa số cán bộ qua tập huấn và đội ngũ câu lạc bộ nhóm trẻ em nòng cốt tại địa bàn dân cư đủ năng lực trong việc tuyên truyền, cung cấp dịch vụ cơ bản về bảo vệ trẻ em tại cộng đồng dân cư.

Do đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh, với sự gia tăng về số lượng người dân tạm cư ngày một cao, thường xuyên thay đổi về chỗ ở,… nên công tác truyền thông đến các đối tượng này còn hạn chế. Ngoài ra, các hình thức tuyên truyền pháp luật còn chậm đổi mới, nội dung đôi lúc chưa thiết thực, kinh phí triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, … vì vậy ít nhiều đã tác động đến hiệu quả công tác truyền thông về bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

1.4- Xây dựng bộ máy tổ chức:                        

Tính đến cuối năm 2018, nhân sự phụ trách về trẻ em toàn thành phố có 384 người[5], trong đó: cấp thành phố là 09 người[6]; cấp quận, huyện 50 người[7]; cấp xã, phường, thị trấn 334 người[8]; cộng tác viên Dân số - Trẻ em là 11.916 người[9]. Nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em, cán bộ tư pháp, giáo viên, cộng tác viên,… hàng năm, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố đã phối hợp với các đơn vị tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và trang bị kỹ năng tham mưu, đàm phán thuyết phục vận động chính sách về trẻ em song hành với phát triển tài liệu về lĩnh vực này đã giúp đội ngũ cán bộ, cộng tác viên các ngành, các cấp tham mưu và triển khai công việc thuận lợi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đề ra.

1.5- Công tác phối hợp liên ngành:

Ủy ban nhân dân Thành phố đã thành lập Ban điều hành bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phát huy vai trò của từng Sở, ngành, đoàn thể Thành phố và thường xuyên kiện toàn nhằm tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố xây dựng, tổ chức chỉ đạo, triển khai thực hiện, huy động các nguồn lực để phục vụ công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn Thành phố. Trong những năm qua, các ngành, các cấp của thành phố đã tổ chức 45.425 lớp tập huấn, bồi dưỡng với 7.711.309 lượt người tham dự (nam giới chiếm 39,26%); đồng thời, để tạo nguồn báo cáo viên, tuyên truyền viên cho các ngành, lĩnh vực và địa bàn dân cư, thành phố đã phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức 10 khóa đào tạo và cấp giấy chứng nhận cho 200 người (nam giới chiếm 39,57%); song song đó phối hợp với: các Trường Đại học, Viện nghiên cứu, Học viện trên địa bàn thành phố và Bộ, ngành Trung ương tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học liên quan đến nhiều chủ đề và lĩnh vực qua đó kết hợp được lý thuyết và thực tiễn để vận dụng vào quá trình tham mưu, hoạch định chính sách và triển khai hiệu quả các hoạt động về trẻ em, đây là hoạt động được tổ chức thường xuyên từ thành phố đến cơ sở.

Bên cạnh nguồn lực của mình, trong năm 2017-2018 thành phố đã chủ động huy động các nguồn lực từ các tổ chức xã hội thực hiện một số chương trình, đề án nhằm nâng cao năng lực và vận động xã hội bảo vệ cho các nhóm trẻ em dễ bị tổn thương như: phối hợp với Quỹ Nhi đồng liên hợp quốc thực hiện Dự án “Sáng kiến thành phố thân thiện với trẻ em” tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017-2021, phối hợp với Cơ quan bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ liên hợp quốc thực hiện dự án “Thành phố an toàn với phụ nữ và trẻ em”, phối hợp với Tổ chức Cứu trợ trẻ em quốc tế thực hiện mô hình dự án “Trường học thân thiện và Bảo vệ trẻ em dễ bị tổn thương”,  phối hợp thực hiện các hoạt động của dự án “Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quốc gia phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam” do Tổ chức Lao động quốc tế hỗ trợ,...

2. Kết quả thực hiện Luật Trẻ em

2.1- Thực hiện công tác chăm sóc trẻ em:

Việc cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi đạt 100%, thực hiện tốt qui trình 3 trong một: khai sinh, BHYT và nhập hộ khẩu; đồng thời đảm bảo 100% trẻ em dưới 6 tuổi (đủ điều kiện) được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế khi khám, chữa bệnh tại các cơ sở công lập; đồng thời Thành phố chỉ đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan và quận-huyện thực hiện việc theo dõi, giám sát việc cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi, Thành phố đã cấp thẻ BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi trong 02 năm 2017 (533.179 thẻ), năm 2018 (571.292 thẻ) với tổng kinh phí hơn 819 tỷ 658 triệu, thực hiện hỗ trợ mổ tim miễn phí cho 40 trường hợp trẻ em gia đình nghèo bị bệnh tim bẩm sinh; triển khai chương trình phẫn thuật dị tật vùng hàm mặt và sụp mí mắt và chương trình hỗ trợ chi phí phẫu thuật; thực hiện công tác giám sát, hướng dẫn đảm bảo an toàn sức khỏe cho trẻ em trong tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí dịp Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì trẻ em, Quốc tế thiếu nhi 1/6. Ngoài ra, 24/24 quận, huyện triển khai thực hiện tốt Chương trình tiêm chủng định kỳ cho trẻ em, chủ động tăng cường công tác tuyên truyền phòng chống bệnh sởi, sốt xuất huyết..., tăng cường truyền thông, nói chuyện chuyên đề về cách phòng chống lây lan dịch bệnh tại xã-phường-thị trấn, khu phố-ấp, tổ dân phố và các trường mầm non.

2.2- Thực hiện quyền học tập cho trẻ em:

Thành phố đặc biệt quan tâm đến chương trình giáo dục đào tạo, phát triển cân đối phù hợp giữa trường công lập và trường tư thục, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi trẻ em. Mạng lưới trường, lớp ở các ngành học, bậc học đã được phủ khắp 322 phường, xã, 24 quận, huyện với quy mô tăng theo các năm[10]. Các chính sách về giáo dục đã tập trung vào việc hỗ trợ cho trẻ em trong nhóm hộ nghèo, dân tộc thiểu số, nông thôn, vùng khó khăn, nhập cư… được tiếp cận giáo dục tối thiểu. Tổng số trẻ em đang học mẫu giáo và các cấp học phổ thông là 1.664.222 trẻ[11], trong đó: tỷ lệ trẻ ở độ tuổi mẫu giáo được đến lớp là 94,14%, trong đó có 47,6% là trẻ em gái (vượt 2,13% so với kế hoạch); 98% trẻ em 5 tuổi được vào mẫu giáo (vượt 3% so với kế hoạch) và 100% trẻ em gái vào lớp 1; Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi được đến trường: cấp trung học cơ sở là 96% nữ và 95,7% nam và cấp trung học phổ thông là 84,7% nữ và 73,74% nam[12]. Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố, dự kiến năm học 2019 – 2020, tổng số học sinh các cấp học trên địa bàn thành phố là 1.716.623 với 46.496 phòng học thuộc 2.355 trường[13].

Bên cạnh nguồn ngân sách, hàng năm các sở, ngành, đoàn thể thành phố đều tích cực vận động các nguồn kinh phí ngoài ngân sách hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em, bao gồm: học bổng[14], dụng cụ học tập, xe đạp, mũ bảo hiểm... Thực hiện miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho trẻ em đủ điều kiện theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP của Chính phủ trên địa bàn thành phố[15].

2.3- Công tác văn hóa, thông tin, thể thao, du lịch cho trẻ em:

Thành phố và quận-huyện; phường - xã - thị trấn đã tích cực chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn vận động các nguồn lực tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao dành cho trẻ em nhân dịp các ngày Lễ lớn trong năm[16]. Tăng cường phục vụ các em thông qua các công trình vui chơi giải trí cấp thành phố và cấp quận, huyện; phòng chiếu phim 3D[17], Thư viện đồ chơi hy vọng Shinsegae Emart cho trẻ em tại quận Gò Vấp. Phát huy các hoạt động tại Nhà Thiếu nhi thành phố, Nhà Thiếu nhi quận-huyện, với các phòng chức năng, phòng năng khiếu, phòng chiếu phim 3D, sân chơi ngoài trời,... Đây là các địa điểm sinh hoạt hiện đại, đáp ứng đầy đủ và tốt nhất nhu cầu về học tập, vui chơi, rèn luyện kỹ năng của các em, trở thành một mái nhà, một địa chỉ thân thương của trẻ em thành phố.

2.4- Thực hiện quy định về trẻ em tham gia vào các vấn đề của trẻ em:

Thực hiện chương V Luật trẻ em, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Văn bản số 1037/UBND-VX ngày 22 tháng 3 năm 2019 về triển khai việc lấy ý kiến trẻ em trong quá trình xây dựng chương trình, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội về trẻ em hoặc liên quan đến trẻ em; đồng thời Sở Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Thành Đoàn Thành phố thành lập Hội đồng trẻ em cấp Thành phố, là đơn vị đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em và giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em. Hằng năm đều tổ chức chương trình Trẻ em gặp mặt Lãnh đạo Thành phố đầu năm và diễn đàn lắng nghe tiếng nói trẻ em; qua đó trẻ em đã đề xuất nhiều chương trình, chính sách liên quan đến trẻ em như: xây dựng trường học, khu vui chơi giải trí dành cho trẻ em, tăng cường nhiều tuyến xe buýt phục vụ miễn phí cho trẻ em… 

2.5- Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

Công tác chăm lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn Thành phố luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp có hiệu quả của các ban, ngành, đoàn thể Thành phố, trên 98% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp, trợ giúp, chăm sóc và được tiếp cận ít nhất một trong các loại hình dịch vụ bảo vệ trẻ em để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển. Ngoài nguồn ngân sách của Thành phố và ngân sách của quận-huyện, chủ động phối hợp cùng với các ban, ngành, đoàn thể vận động thêm các nguồn lực xã hội, các mạnh thường quân cùng chăm lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhân dịp Tết Nguyên đán, ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6, Tháng hành động vì trẻ em[18] như: tặng quà, dụng cụ học tập và trao học bổng...; tổ chức Hội trại Chắp cánh ước mơ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn thành phố, diễn đàn “Lắng nghe tiếng nói trẻ em” hàng năm.

Tính đến hết Quý 1/2019, trên địa bàn Thành phố có 08 cơ sở bảo trợ xã hội công lập chăm sóc và nuôi dưỡng 738 trẻ em (trong đó có 301 trẻ em nữ) và 42 cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập (37 có phép và 05 không phép) chăm sóc và nuôi dưỡng 1.363 trẻ em (trong đó có 541 trẻ em nữ)

3. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện quyền trẻ em.

3.1- Về tình hình xâm hại trẻ em:

Theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố[19], với quy mô dân số đông (trẻ em chiếm khoảng 16,2% dân số)[20], thách thức lớn nhất mà Thành phố phải tập trung giải quyết là tình trạng quá tải trường học, bệnh viện, di cư; công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt đối với tội phạm về bạo lực, xâm hại trẻ em trong thời gian quamột trong những vấn đề được ưu tiên tìm mọi giải pháp để ngăn ngừa loại tội phạm nguy hiểm này. Trong đó, tập trung các giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức trong các ngành, các cấp, cộng đồng dân cư; đặc biệt là trẻ em, gia đình, người nuôi dưỡng chăm sóc trẻ về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, tình trạng trẻ em bị bạo lực, xâm hại và xâm hại tình dục vẫn xảy ra và diễn biến theo chiều hướng phức tạp.

Trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014 trên địa bàn Thành phố xảy ra 691 trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục; giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2019, trên địa bàn thành phố xảy ra 782 trẻ em bị bạo lực, xâm hại, xâm hại tình dục, gồm có: 43 trẻ em trai (chiếm tỷ lệ 5,5%) và 739 trẻ em gái (chiếm tỷ lệ 94,5%)[21], trong đó: Bạo lực: 50 trường hợp[22]; Xâm hại tình dục[23]: 695 trường hợp; Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em: 01 trường hợp; Các hình thức khác: 36 trường hợp.

Đối tượng thực hiện hành vi xâm hại trẻ em ngày càng mở rộng, không chỉ là người lao động phổ thông có trình độ dân trí thấp mà đã phát sinh từ những người có nghề nghiệp ổn định, có trình độ dân trí cao, có địa vị xã hội, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 18 trở lên[24]. Phần lớn những người xâm hại trẻ em là nam giới và hầu hết các trẻ em bị xâm hại bởi người quen biết như họ hàng, hàng xóm, bạn của gia đình,… một số trường hợp xâm hại diễn ra trong một thời gian dài, thậm chí kéo dài nhiều năm nhưng nạn nhân im lặng. Tuổi đời của các đối tượng phạm tội còn rất trẻ; trình độ học vấn thấp, nhận thức và am hiểu pháp luật còn rất hạn chế, không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; giao du với các đối tượng xấu, tiếp xúc với các văn hóa phẩm đồi trụy, rượu chè, lệch lạc về lối sống và chuẩn mực đạo đức, dưới tác động dễ dàng từ sách, báo, truyện, mạng internet có nội dung không lành mạnh nên dễ dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội.

Tình trạng trẻ em bị xâm hại hiện nay đang là vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội; có xu hướng gia tăng, với cách thức ngày càng tinh vi. Nhiều vụ xâm hại trẻ em cho thấy tính chất vụ việc đã đến mức nghiêm trọng; sự vô cảm, mất nhân tính của tội phạm báo động về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận không nhỏ người dân. Thủ đoạn của các đối tượng chủ yếu là lợi dụng sự tin tưởng hay sức ảnh hưởng của mình hoặc dùng “lòng tốt” nhằm dụ dỗ, đe dọa để thực hiện hành vi xâm hại với trẻ em. Các dạng hành vi xâm hại trẻ em phổ biến: giết, cố ý gây thương tích, hiếp dâm, giao cấu, dâm ô, bắt cóc, mua bán,…

Đặc biệt, nếu như trước đây, địa bàn xảy ra các vụ xâm hại trẻ em thường tập trung ở những địa điểm vắng vẻ, khu vực ngoại thành, khách sạn, nhà trọ lưu trú của người dân lao động, thì gần đây địa bàn xảy ra các vụ xâm hại trẻ em còn là các khu vực công cộng thuộc các chung cư, trường học, công viên. Việc ghi nhận thông tin khách lưu trú (giữ giấy tờ tùy thân, vào sổ lưu trú...) của các khách sạn, nhà nghỉ, phòng trọ không được thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật, do đó, khi xảy ra các vụ xâm hại tình dục trẻ em, việc thu thập, xác minh, củng cố chứng cứ gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế.

3.1- Về công tác thanh tra, kiểm tra:

Công tác kiểm tra giám sát thực hiện các quyền trẻ em, chính sách, pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em luôn được Thành phố, quận-huyện, phường-xã-thị trấn quan tâm triển khai thực hiện thường xuyên. Tại địa phương, khi có trường hợp vi phạm quyền trẻ em xảy ra, mạng lưới cộng tác viên ở khu phố, ấp báo cáo đến cán bộ trẻ em xã - phường - thị trấn; ngoài ra còn có nhiều kênh thông tin tiếp nhận tin báo về vụ việc vi phạm quyền trẻ em như các số điện thoại, đường dây nóng như: Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em (111), Lực lượng phản ứng nhanh Công an Thành phố (113), Trung tâm Công tác xã hội, giáo dục dạy nghề Thiếu niên Thành phố (1900545559), Hội Bảo vệ quyền trẻ em (18009069) hoặc Phòng Bảo vệ - Chăm sóc trẻ em, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội (028.38225842).

Bên cạnh đó, theo chỉ đạo của Thành phố, hàng năm các sở, ban, ngành, đoàn thể, quận - huyện và phường - xã - thị trấn đều xây dựng kế hoạch, thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra giám sát tại địa bàn, đặc biệt là công tác giám sát việc thực hiện các quyền của trẻ em tại các cơ sở bảo trợ xã hội trẻ em ngoài công lập, trường mầm non tư thục, nhóm trẻ gia đình (phối hợp kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm, về cơ sở vật chất, phòng cháy chữa cháy...), hạn chế không để xảy ra các trường hợp vi phạm các quyền cơ bản của trẻ, đảm bảo trẻ có điều kiện sống và phát triển lành mạnh. Tăng cường giám sát, phòng ngừa các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bạo lực, tai nạn thương tích tại cộng đồng và các cơ sở bảo trợ xã hội trợ giúp trẻ em; đặc biệt đề nghị các quận, huyện giám sát việc thực hiện pháp luật lao động (giờ giấc, điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi,...) tại các cơ sở kinh doanh, dịch vụ có sử dụng lao động trong độ tuổi chưa thành niên. Tiếp nhận thông tin, chuyển gửi và hướng dẫn quận, huyện phối hợp giải quyết đối với các trường hợp trẻ em bị tai nạn thương tích dẫn đến tử vong, bị xâm hại, bạo lực, lao động vượt quá thời gian làm việc theo quy định của pháp luật.

3.2- Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện quyền trẻ em

1. Theo báo cáo của Công an Thành phố, lực lượng Công an Thành phố đã chủ động phát hiện, tổ chức tiếp nhận, giải quyết nhanh chóng, kịp thời các thông tin về an ninh trật tự, các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến trẻ em trên địa bàn Thành phố; lựa chọn cán bộ thụ lý có uy tín, kinh nghiệm, có trình độ, hiểu biết về tâm lý trẻ em đối với những vụ việc, vụ án liên quan đến trẻ em. Rà soát, khẩn trương điều tra, xử lý các hành vi vi phạm phạm luật về bạo lực, bóc lột, xâm hại, mua bán trẻ em. Quá trình điều tra, xử lý các vụ việc, có biện pháp đảm bảo các quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em, không để nạn nhân bị tái tổn thương.

Đối với các vụ việc, vụ án có trẻ em là người tham gia tố tụng, xây dựng kế hoạch làm việc phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành của trẻ em trong từng vụ; ưu tiên tiến hành điều tra, giải quyết nhanh chóng; đảm bảo có sự tham gia tố tụng của người giám hộ, người bảo vệ quyền lợi, trợ giúp pháp lý; bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và bí mật đời sống riêng tư, không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, hạn chế tối đa việc dẫn giải, gây áp lực về tâm lý cho trẻ em[25].

2. Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra liên quan đến các tội phạm xâm hại trẻ em của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố như sau: Tổng số vụ, bị can bị khởi tố: 125 vụ với 179 bị can. Số vụ đã truy tố: 57 vụ với 57 bị can. Số vụ đã xét xử: 58 vụ với 59 bị can. Trong đó các tội “Giết người” liên quan đến bị hại là trẻ em với tỷ lệ 2,4% (03/125 vụ), Tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tỷ lệ 8% (10/125 vụ); Tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” chiếm tỷ lệ 21,6% (27/125 vụ); Tội “Giao cấu với trẻ em” chiếm tỷ lệ 51,2% (64/125 vụ), chiếm tỷ lệ chiếm tỷ lệ thấp nhất 0.8% (01/ 125 vụ) là Tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”…

3. Theo báo cáo của Tòa án nhân dân Thành phố, cơ quan Tòa án xét xử đảm bảo nghiêm khắc trừng phạt người có hành vi bị nghiêm cấm thực hiện đối với trẻ em mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm, nhằm giảm thiểu tội phạm xâm phạm trẻ em. Từ ngày 01/6/2017 đến ngày 31/12/2018, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố đã thụ lý 351 vụ án hình sự với 572 bị cáo là người chưa thành niên, trong đó đã đưa ra xét xử 253 vụ án với 380 bị cáo, trả hồ sơ điều tra bổ sung 83 vụ với 160 bị cáo. Trong quá trình xét xử những bị cáo là người chưa thành niên, Tòa án đều đảm bảo thành phần Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân làm việc trong ngành giáo dục hoặc Đoàn thanh niên, có người đại diện hợp pháp của bị cáo tham dự và quyết định các mức hình phạt vừa mang tính răn đe, vừa mang tính giáo dục, phòng ngừa. Đến nay, công tác xét xử của Tòa án luôn được duy trì và nâng cao về số lượng cũng như chất lượng giải quyết các vụ việc liên quan đến việc bảo đảm quyền, bổn phận trẻ em.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Qua giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố nhận thấy công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em luôn được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Thành phố. Các Sở, ban ngành, đoàn thể cùng các quận, huyện đã góp phần tạo nên phong trào chăm lo cho trẻ em của toàn thành phố; kịp thời tham mưu và triển khai các hoạt động liên quan đến công tác trẻ em trên địa bàn; chủ động tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng lao động trẻ em, hoạt động các nhóm trẻ gia đình, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, ... Các cơ quan tư pháp thành phố đã có sự phối hợp tốt trong công tác xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện quyền của trẻ em, đảm bảo xử phạt nghiêm khắc người có hành vi xâm hại trẻ em.

2. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình thực hiện Luật Trẻ em trên địa bàn Thành phố còn gặp những khó khăn và thách thức sau:

- Do đặc thù của Thành phố là lượng người nhập cư đến từ các tỉnh, thành khác ngày càng gia tăng. Do vậy, nguồn lực để chăm lo cho số trẻ ở các gia đình nhập cư là rất lớn, trong khi đó nguồn ngân sách Nhà nước chăm lo cho trẻ em cũng còn hạn chế, các nguồn vận động thường không ổn định. Bên cạnh đó, những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, trẻ bị xâm hại có xu hướng gia tăng do đặc thù phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.

- Bộ máy nhân sự phụ trách công tác trẻ em từ Thành phố đến quận-huyện; phường - xã - thị trấn dù được bố trí tương đối đủ về mặt số lượng; tuy nhiên, đội ngũ này thường xuyên thay đổi, cán bộ cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau. Chính vì vậy, việc chuẩn hóa về chất lượng chuyên môn cho lực lượng này luôn là một trong những vấn đề thách thức đối với ngành Lao động – Thương binh và Xã hội.

- Công tác kiểm tra giám sát đã được Thành phố và các quận - huyện, phường-xã - thị trấn quan tâm triển khai thực hiện, nhưng trên địa bàn Thành phố vẫn còn xảy ra những trường hợp vi phạm quyền trẻ em như trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị tai nạn thương tích dẫn tới tử vong, trẻ em các tỉnh, thành khác đến thành phố ăn xin.

- Sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, mạng internet, điện thoại thông minh… làm cho việc tiếp cận các trang mạng có nội dung không lành mạnh, nội dung khiêu dâm, bạo lực một cách dễ dàng; kết hợp việc thuê phòng trọ, nhà nghỉ, quán cà phê, quán karaoke một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hành vi xâm hại tình dục dễ dàng khó bị phát hiện. Trong khi đó công tác quản lý Nhà nước, quản lý xã hội chưa theo kịp với sự thay đổi mạnh mẽ về mọi mặt của đời sống xã hội nên có những hạn chế nhất định.

-    Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật hình sự, pháp luật hôn nhân gia đình, pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em từng lúc, từng nơi chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến việc thực hiện Luật Trẻ em còn những hạn chế nhất định.

- Chương trình giáo dục giới tính trong trường học còn nhiều bất cập, chưa cung cấp được những kiến thức cơ bản và một số kỹ năng cần thiết về phòng, chống xâm hại, kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh.

- Qua công tác xét xử tại Tòa án trên địa bàn trong thời gian qua nhận thấy, các vụ án hình sự về tội phạm bạo hành, xâm hại trẻ em hiện nay có chiều hướng gia tăng về số lượng và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; trong đó, các hành vi xâm hại tình dục trẻ em người bị hại có độ tuổi ngày càng trẻ hóa, hầu hết người thực hiện hành vi phạm tội là người quen, có mối quan hệ thân thiết với trẻ bị hại nên việc phát hiện, tố cáo chậm dẫn đến việc xét xử gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, còn nhiều khó khăn, bất cập trong công tác phối hợp, vận dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý tội phạm bạo hành, xâm hại trẻ em.

- Thực tiễn trong thời gian qua, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm hại trẻ em còn hạn chế do có khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật có liên quan, cụ thể:

+ Tại các Điều 145, Điều 146, Điều 147, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) chưa quy định rõ như thế nào là hành vi xâm hại tình dục, hành vi dâm ô; như thế nào là hành vi khiêu dâm, giao cấu, trình diễn khiêu dâm, hành vi quan hệ tình dục khác; như thế nào là người “đang trong tình trạng quẫn bách” …, do đó, việc xử lý các loại tội phạm này trong thực tế vẫn còn những quan điểm khác nhau, tùy nghi áp dụng do cách hiểu, cách tiếp cận của các cơ quan tư pháp khác nhau nên khó khăn trong việc định tội danh, cũng như trong việc xử lý hình sự và thủ tục tố tụng liên quan đến tội danh “dâm ô với trẻ em”.

+ Một số nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chưa được quy định như: trẻ em bị bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị sang chấn tâm lý từ các vụ bố mẹ ly hôn, trẻ em di cư, trẻ bị bắt cóc, buôn bán, trẻ em sống trong các hộ nghèo.  Đối với đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã có quy định về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhưng cũng mới chỉ quy định về trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục từng nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mà chưa có quy định về biện pháp bảo đảm nhất là các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

+ Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các loại tội phạm xâm hại trẻ em còn gặp nhiều khó khăn. Do theo quy định đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng chỉ có thể áp dụng biện pháp tạm giam nếu thỏa mãn một số trường hợp cụ thể quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, dễ tạo điều kiện thuận lợi để các đối tượng phạm tội ở ngoài “chạy án” hoặc đe dọa gây áp lực với bị hại hay có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đặc biệt là tiếp tục phạm tội đối  với chính bị hại.

+ Mặc dù đã có quy định về quy trình, trách nhiệm, thẩm quyền về phòng, chống tội phạm bạo hành, xâm hại trẻ em nhưng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em; thiếu quy định cụ thể đầu mối tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác và phối hợp xác minh, đánh giá, điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em; chưa có quy định về thẩm quyền, thủ tục tách trẻ em ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc trong trường hợp chính cha mẹ, người chăm sóc có hành vi xâm hại tình dục, bạo hành đối với trẻ em; thiếu hệ thống theo dõi để đảm bảo những trẻ em này không tiếp tục bị bạo hành, bị xâm hại tình dục.

+ Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi bạo hành, xâm hại trẻ em bỏ sót nhiều hành vi phạm tội; trên thực tế việc xử lý vi phạm hành chính về xâm hại trẻ em không nhiều, chủ yếu tập trung vào các vi phạm hình sự nên tính phòng ngừa, răn đe còn hạn chế; thiếu các quy trình và hướng dẫn cụ thể về hỗ trợ và bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng của bạo hành, xâm hại. Thiếu những quy định xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân không tố cáo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em; không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ trách nhiệm bảo vệ trẻ em khi trẻ em bị xâm hại. Chế tài xử lý tội phạm, hình phạt áp dụng đối với các đối tượng phạm tội liên quan đến bạo hành, xâm hại trẻ em chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi dẫn tới việc làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh xử lý đối với tội phạm này.

+ Để chứng minh một đối tượng nghi vấn có hay không phạm tội đòi hỏi chứng cứ buộc tội rõ ràng, đầy đủ. Tuy nhiên trên thực tế, khi thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em, đối tượng thường chọn những nơi kín đáo. Khi bị tố giác các đối tượng đều không thừa nhận hành vi phạm tội, để chứng minh tội phạm đa số dựa trên sự phù hợp giữa lời khai của người bị hại và đối tượng liên quan. Đối với loại tội phạm này rất khó tìm được người làm chứng, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác. Điều này tạo nên khó khăn trong đánh giá chứng cứ, nếu một trong hai bên thay đổi lời khai thì không có chứng cứ nào khác để buộc tội, do đó thường dẫn đến các quan điểm trái ngược về hướng xử lý, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án kéo dài hơn hoặc không đủ chứng cứ để khởi tố điều tra.

+ Tâm lý từ phía người bị hại là trẻ em và gia đình người bị hại thường lo sợ (phụ huynh thường lo lắng vụ việc ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ) cũng tạo nên một phần khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án như người bị hại hợp tác không đầy đủ, có sự e dè, cẩn trọng trong việc trả lời các câu hỏi khi ghi lời khai. Ngoài ra, đối với loại tội phạm liên quan đến hành vi xâm hại tình dục, việc điều tra, chứng minh tội phạm rất khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Tâm lý sợ ảnh hưởng đến sự phát triển sau này của trẻ em khiến bị hại và gia đình giấu thông tin, không tố giác, không hợp tác với các cơ quan chức năng, dẫn đến không đủ chứng cứ để xử lý, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của tội phạm.

Nhiều trường hợp bị hại là trẻ em, nhận thức còn hạn chế nên việc lấy lời khai, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra và Tòa án gặp nhiều khó khăn. Bị hại trong các vụ án bạo hành, xâm hại trẻ em không những chịu tổn thương về mặt thể chất mà còn bị ảnh hưởng sâu sắc về mặt tâm lý dẫn đến sợ sệt, xấu hổ... làm cho việc khai báo không rõ ràng, thiếu chính xác, lời khai không thống nhất, gây khó khăn cho Tòa án trong việc thu thập, đánh giá, xem xét chứng cứ. Bên cạnh đó, người bị hại trong các vụ án hầu hết xuất phát từ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự bảo vệ, quan tâm, chăm sóc của gia đình nên dễ trở thành mục tiêu của các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội; Các bé gái còn nhỏ tuổi, thích tò mò khám phá những điều mới mẻ, kích thích, chưa nhận thức đầy đủ cũng như chưa đủ khả năng để bảo vệ bản thân.

+ Phần lớn người phạm tội và bị hại trong các vụ xâm hại  tình dục trẻ em là người dân nhập cư đến thuê trọ làm ăn sinh sống, sau khi sự việc xảy ra đã chuyển đi nơi khác; nhiều trường hợp chỉ có lời khai của bị hại hoặc bị hại còn rất nhỏ tuổi và lời trình bày được ghi nhận sau một thời gian dài so với thời điểm xảy ra hoặc bị khống chế tác động nên lời khai không thống nhất, không rõ. Một số vụ việc xảy ra lâu trước khi cơ quan chức năng phát hiện nên không để lại các dấu vết hay chứng cứ vật chất trên người bị hại; Kết luận giám định không giải thích được nguyên nhân, thời điểm xảy ra các tổn thương tại bộ phận sinh dục của trẻ em dẫn tới nhiều khó khăn trong việc điều tra, truy tố, xét xử, nhất là khi đối tượng phản cung sẽ rất khó buộc tội và dẫn tới tâm lý e dè trong bộ phận Kiểm sát viên vì có thể gây oan sai.

+ Kết quả giám định các vụ án xâm hại tình dục thường không rõ nét do từ khi bị xâm hại đến khi người bị hại hoặc người khác trình báo sự việc đến cơ quan chức năng thì các dấu vết trên người của bị hại tại hiện trường, trên quần áo đã lâu ngày dẫn đến việc trưng cầu giám định không đạt hiệu quả cao nhất, có thu được ADN nhưng không đủ để đối chiếu với AND của đối tượng, tạo một phần khó khăn khi đánh giá chứng cứ để chứng minh có hay không hành vi xâm hại đã xảy ra. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp người bị hại từ chối việc giám định vì lý do cá nhân gây khó khăn cho công tác đấu tranh với tội phạm.

IV. KIẾN NGHỊ

1. Đối với Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương:

- Kiến nghị cần quy định trong Bộ luật Hình sự các hình thức xâm hại khác mà không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa kẻ phạm tội và trẻ em như: gạ gẫm, dụ dỗ thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin (phơi bày thân thể để chụp ảnh, ghi hình)...và phải có biện pháp trừng phạt; quy định về yếu tố cấu thành của tội hiếp dâm trẻ em không đòi hỏi phải có yếu tố dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. Cần sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cụ thể cho phép cơ quan điều tra được phép tiến hành một số hoạt động nghiệp vụ đặc thù riêng, đặc biệt để thu thập chứng cứ chứng minh đối với các tội phạm tình dục nói chung, tội phạm tình dục trẻ em nói riêng.

- Kiến nghị Lãnh đạo liên ngành hình sự Trung ương hoặc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sớm có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về các tội liên quan đến xâm hại tình dục, xâm hại tình dục đối với người dưới 16 tuổi với các điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146 và 147). Cần quy định rõ quy định như thế nào là “ hành vi dâm ô” và “thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác”. Đối quy định về việc truy tố tội danh "dâm ô với người chưa đủ 16 tuổi" không nhất thiết phải có hành vi đụng chạm vào phần nhạy cảm của nạn nhân nhằm thỏa mãn ham muốn của cá nhân đó. Điều này là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, sớm ban hành các quy trình xử lý, thu thập chứng cứ đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em.

- Kiến nghị sớm hoàn thiện ban hành nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính về xâm hại trẻ em; lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em; bổ sung các quy định xử lý về hành vi xâm hại tình dục trẻ em như tàng trữ ấn phẩm khiêu dâm trẻ em, tệ nạn ấu dâm; các quy trình và hướng dẫn cụ thể về hỗ trợ và bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng của bạo lực, xâm hại; ban hành văn bản hướng dẫn thủ tục thực hiện tách trẻ em ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc trong trường hợp chính cha mẹ, người chăm sóc có hành vi xâm hại tình dục, bạo lực, xâm hại thân thể đối với trẻ em, quy chế xây dựng hệ thống theo dõi để đảm bảo những trẻ em này không tiếp tục bị bạo hành, bị xâm hại tình dục. Đồng thời bổ sung quy định việc xử lý các cơ quan, tổ chức, cá nhân không tố cáo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.

- Luật Trẻ em quy định đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi bởi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em từ chối thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em hoặc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và áp dụng biện pháp chăm sóc thay thế; Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định việc chăm sóc thay thế đối với trường hợp trẻ em không thể sống cùng cha, mẹ vì sự an toàn của trẻ em; cha, mẹ không có khả năng bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em hoặc chính là người xâm hại trẻ em. Kiến nghị ban hành văn bản quy định trình tự, thủ tục để Tòa án ban hành Quyết định tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và áp dụng biện pháp chăm sóc thay thế.  

- Kiến nghị Bộ Tư pháp nghiên cứu, đề xuất việc thiết lập các đơn vị cnh sát chuyên biệt về bảo vệ trẻ em; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục thực hiện việc phổ biến tới các tchức phúc lợi xã hội, cá nhân, cộng đồng, tòa án, cơ quan hành chính, cơ quan luật pháp vcác thủ tục, tiêu chuẩn xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em trong mỗi lĩnh vực theo nội dung Quyết định 535/QĐ-TTg ngày 14 tháng 04 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện khuyến nghị của Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc.

- Kiến nghị sớm ban hành văn bản liên ngành về việc phối hợp cùng với Tòa án và các cơ quan thực thi pháp luật để thực hiện hiệu quả công tác phòng ngừa; các bộ ban nghành đưa ra các cơ chế phản ứng nhanh, phù hợp với trẻ em khi có hành vi xâm phạm quyền trẻ em xảy ra, có các nhân viên xã hội chuyên nghiệp để hỗ trợ trẻ em khi cần thiết và đảm bảo mọi trẻ em ở Việt Nam đều được bảo vệ.

- Tình trạng cha, mẹ bị nghiện ma túy lợi dụng con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (vì theo quy định pháp luật xử lý vi phạm hành chính nếu đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi thì không bị đưa đi cai nghiện), tình trạng trẻ em ăn xin tại các thành phố lớn tiếp tục xuất hiện và chưa có giải pháp giải quyết triệt để. Kiến nghị cần bổ sung các chế tài đối với cha, mẹ có hành vi ngược đãi lợi dụng nêu trên.

- Kiến nghị xem xét bố trí chức danh công chức đối với cán bộ phụ trách công tác trẻ em - bình đẳng giới tại xã, thị trấn vì hiện nay áp lực công vệc ngày càng nhiều, đòi hỏi đội ngũ cán bộ cần phải có năng lực, trình độ và có chế độ phù hợp để cán bộ yên tâm công tác lâu dài.

2. Đối với Thành phố

- Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo các Sở ngành liên quan tiếp tục triển khai thực hiện tốt Luật Trẻ em, đảm bảo các quyền của trẻ em; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trẻ em trên địa bàn Thành phố.

- Kiến nghị Thành phố quy hoạch, danh quỹ đất, ngân sách đầu tư cho các công trình cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện các quyền trẻ em như: Trường học, cơ sở văn hóa, nhà thiếu nhi, trường chuyên biệt, cơ sở bảo trợ,... đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi, giải trí cho trẻ em.

- Kiến nghị Thành phố quan tâm hỗ trợ chế độ, chính sách thường xuyên tổ chức tập huấn và trang bị kỹ năng, kiến thức đối với cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở phường - xã - thị trấn.

- Kiến nghị Thành phố hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các điểm tư vấn cộng đồng (có quyết định thành lập) trên địa bàn thành phố hoạt động nhằm hỗ trợ công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em tại cơ sở, thực hiện công tác tư vấn, tham vấn, can thiệp và hỗ trợ khẩn cấp; kết nối và cung cấp dịch vụ cho gia đình, trẻ em.

- Kiến nghị Thành phố sớm xây dựng hệ thống dữ liệu quản lý thông tin về người chưa thành niên phạm tội từ điều tra, truy tố, xét xử, chấp hành hình phạt đến khi tái hòa nhập cộng đồng với các cơ quan hữu quan. Tổng hợp đề xuất ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan để nâng cao hiệu quả hỗ trợ người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật dựa vào cộng đồng.

- Sớm ban hành quy trình phối hợp can thiệp, xử lý các vụ việc liên quan đến vấn đề bạo lực, xâm hại trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật liên quan đến việc sử dụng lao động trẻ em, các cơ sở giáo dục nuôi dạy, chăm sóc trẻ em công lập và ngoài công lập, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

- Kiến nghị Công an Thành phố chỉ đạo Công an các quận, huyện cần đẩy mạnh công tác quản lý nhân khẩu, quản lý người cư trú tại địa phương, đặc biệt là các đối tượng không nghề nghiệp, hay tụ tập sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích, các đối tượng có tiền án, tiền sự và nhất là về hành vi xâm hại trẻ em, các đối tượng nghiện game điện tử, các tụ điểm game điện tử (internet, game bắn cá…) để thực hiện công tác phòng ngừa tội phạm, kịp thời nắm bắt di biến động của các đối tượng để cung cấp đầy đủ thông tin cho cơ quan điều tra khi cần truy xét.



[1] Nguồn: Báo cáo 2 năm thực hiện Luật trẻ em, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018.

[2] Nguyên nhân chủ yếu sau: một số hộ đăng ký thường trú ở địa phương nhưng không ở nơi thường trú, đăng ký tạm trú trong thời gian ngắn rồi tiếp tục chuyển đi nơi khác nhưng không báo chính quyền địa phương và đến nơi ở mới không đăng ký tạm trú.

[3] Nguồn: Báo cáo của các quận, huyện (tính đến quý 4/2018).

[4] Nguồn: Báo cáo của Công an thành phố, năm 2018.

[5] Trong đó có: 290 nữ, chiếm tỷ lệ 75,52% và 94 nam, chiếm tỷ lệ 24,48%.

[6] Trong đó có: 04 nam, chiếm tỷ lệ 44,44%.

[7] Trong đó có: 16 nam, chiếm tỷ lệ 32%.

[8] Trong đó có: 78 nam, chiếm tỷ lệ 23,35%.

[9] Trong đó có: 7.823 nữ, chiếm tỷ lệ 65,65%.

[10] Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm Luật Bình đẳng giới, 2017 của thành phố Hồ Chí Minh: Năm học: 2013-2014 (39.228 phòng học); 2014-2015 (40.709 phòng học); 2015-2016 (42.459 phòng học)”.

[11] Nguồn: Báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2019, số liệu cuối năm học.

[12] Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm Luật Bình đẳng giới, 2017 của thành phố Hồ Chí Minh.

[13] Gồm: 1.381 trường Mầm non; 498 trường Tiểu học; 278 trường THCS; 198 trường THPT.

[14] Trao tặng  481 suất học bổng; 405 xe đạp với tổng trị giá hơn 1 tỷ đồng; 200 dây đai an toàn “Ugether” như áo khoác. 

[15] Thực hiện chính sách miễn giảm học phí cho trẻ em nghèo trên địa bàn thành phố: năm học 2016 - 2017, Thành phố đã giải quyết cho hơn 37 nghìn trường hợp học sinh hộ nghèo, hộ cận nghèo được miễn giảm học phí với tổng số tiền gần 27 tỷ đồng; hỗ trợ chi phí học tập cho hơn 38 nghìn trường hợp với tổng số tiền gần 17 tỷ đồng (Nguồn: Văn phòng Ban chỉ đạo Chương trình Giảm nghèo bền vững.

[16] Sử dụng hiệu quả 11 công trình vui chơi giải trí cấpThành phố, 67 công trình vui chơi giải trí cấp quận, huyện.

[17] Thành phố hiện có 22/24 Phòng chiếu phim 3D phục vụ miễn phí cho trẻ em.

[18] Kết quả công tác chăm lo cho trẻ em nhân dịp các ngày lễ, tết, Tháng hành động vì trẻ em:

- Tổng kinh phí chăm lo Tết Đinh Dậu 2017 và Tết Mậu Tuất 2018 cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn thành phố là: 33,596 tỷ đồng, trong đó: trao tặng 87.569 phần quà với tổng kinh phí hơn 30,2 tỷ đồng, kinh phí chăm lo khác (các hoạt động vui chơi giải trí, ẩm thực…) là: 3,396 tỷ đồng.

- Tổng kinh phí tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, thăm hỏi, tặng quà,...trong Tháng hành động vì trẻ em năm 2017-2018: hơn 54,5 tỷ đồng. Trong đó, Số trẻ em đuợc trao quà: 528.149 em, tổng trị giá: hơn 41,6 tỷ đồng; số trẻ em được trao học bổng, xe đạp: 2.895 em, tổng trị giá: hơn 2 tỷ đồng; các hỗ trợ khác (tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa - văn nghệ thể dục - thể thao, ...) với tổng trị giá: hơn 12 tỷ đồng. Ngoài ra, kinh phí tổ chức hoạt động Hè năm 2017-2018 cho trẻ em  hơn 80 tỷ đồng.

- Tổng kinh phí chăm lo Tết Trung thu: hơn 50 tỷ đồng. Trong đó, số trẻ em đuợc trao quà: 529.750 em với tổng trị giá hơn 48,7 tỷ đồng; các hỗ trợ khác (tổ chức các hoạt động văn hóa - văn nghệ thể dục - thể thao, ...) với tổng trị giá: hơn 1 tỷ đồng.

[19] Báo cáo phục vụ Đoàn giám sát của Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2019.

[20] Nguồn: Cục Thống kê Thành phố, năm 2019

[21] Nguồn: Báo cáo Công an thành phố phục vụ Đoàn giám sát của Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2019.

[22] Một số vụ việc nổi cộm như: (1) Vụ thứ 1: Vụ “hành hạ người khác” đối với trẻ em xảy ra tại trường mần non Ánh Sao Vàng, địa chỉ A1/6 ấp 1, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh. Kết quả xử lý: Cơ quan điều tra đã kết luận điều tra, Viện kiểm sát đã truy tố bị can Trần Thị Hồng Phúc về tội “Hành hạ người khác” theo điểm a khoản 2 điều 140 Bộ luật hình sự. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã xét xử bị cáo Phúc 01 năm 06 tháng từ giam về tội “Hành hạ người khác”. (2) Vụ thứ 2: Vụ “Hành hạ người khác” của các bảo mẫu trường mần non Mầm Xanh, phường Hiệp Thành, Quận 12, TP. Hồ Chí Minh. Kết quả giải quyết: Tại phiên tòa ngày 25/7/2018, Tòa án nhân dân Quận 12 đã tuyên phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ Linh 03 năm, Phạm Như Huỳnh 01 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, bị cáo Nguyễn Thị Đào 02 năm tù cho hưởng án treo. Bản án đã có hiệu lực pháp luật.

[23] Một số vụ việc nổi cộm như: (1) Vụ thứ 1: Vụ việc đối tượng Lương Tấn Bửu phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Ngày 12/4/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lương Tuấn Bửu, về hành vi "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi", quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự và đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, tạm giam đối với Bửu về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Hiện vụ án đang trong giai đoạn điều tra. (2) Vụ thứ 2: vụ việc đối tượng Nguyễn Hữu Linh phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi. Kết quả xử lý: ngày 15/5/2019, Cơ quan điều tra Công an Quận 4 đã ban hành Kết luận điều tra số 45, đề nghị truy tố Nguyễn Hữu Linh về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Ngày 22/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 ban hành cáo trạng truy tố Nguyễn Hữu Linh về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 của Bộ luật hình sự năm 2015. Ngày 23/8/2019, Toà án nhân dân quận 4 đã đưa vụ án ra xét xử, tuyên phạt Nguyễn Hữu Linh phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo Điều 146 Bộ Luật hình sự 2015 với mức án 18 tháng tù giam.

[24] Đối tượng xâm hại trẻ em: 89 đối tượng là người ruột thịt, thân thích; 12 đối tượng là giáo viên, cán bộ, nhân viên tại các cơ sở giáo dục; 291 đối tượng là người có trách nhiệm chăm sóc, chữa bệnh, người quen của trẻ em; 02 đối tượng là người nước ngoài; 297 đối tượng khác.(Nguồn: Báo cáo của Công an Thành phố, năm 2019).

[25] Trong 6 tháng cuối năm 2017: Các vụ có trẻ em bị xâm hại: đã phát hiện 28 vụ, trong đó có 28 trẻ em bị xâm hại (gồm: 25 nam và 03 nữ). Với các tội danh như: Cố ý gây thương tích: 01 vụ (01 trẻ em bị xâm hại) ; Hiếp dâm trẻ em: 08 vụ (08 trẻ em bị xâm hại); Giao cấu với trẻ em: 10 vụ (10 trẻ em bị xâm hại); Dâm ô đối với trẻ em: 04 vụ (04 trẻ em bị xâm hại); Mua bán trẻ em: 01 vụ (01 trẻ em bị xâm hại); Các hành vi khác: 04 vụ (04 trẻ em bị xâm hại). Đã tiến hành xử lý hình sự: 24 vụ; xử lý hành chính: 04 vụ.

- Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật: đã phát hiện 75 vụ, trong đó có 112 người chưa thành niên tham gia (trong đó có: 107 nam và 05 nữ). Với các tội danh như: Giết người: 08 vụ (09 người chưa thành niên tham gia); Cướp tài sản: 03 vụ (10 người chưa thành niên tham gia); Hiếp dâm, cưỡng dâm: 01 vụ (01 người chưa thành niên tham gia); Cố ý gây thương tích: 06 vụ (09 người chưa thành niên tham gia); Trộm cắp tài sản: 30 vụ (50 người chưa thành niên tham gia); Cướp giật tài sản: 22 vụ (26 người chưa thành niên tham gia); Gây rối trật tự công cộng: 01 vụ (01 người chưa thành niên tham gia); Các hành vi khác: 04 vụ (06 người chưa thành niên tham gia). Đã xử lý hình sự: 62 vụ (89 người chưa thành niên tham gia); Xử lý hành chính: 13 vụ (23 người chưa thành niên tham gia).

Trong năm 2018:  Các vụ có trẻ em bị xâm hại: đã phát hiện 77 vụ, trong đó có 103 trẻ em bị xâm hại (gồm 21 nam và 82 nữ). Với các tội danh: Giết người: 01 vụ (03 trẻ em bị xâm hại); Cố ý gây thương tích:  04 vụ (04 trẻ em bị xâm hại); Hiếp dâm trẻ em: 17 vụ (17 trẻ em bị xâm hại); Giao cấu với trẻ em: 32 vụ (32 trẻ em bị xâm hại); Dâm ô đối với trẻ em: 16 vụ (16 trẻ em bị xâm hại); Mua bán người dưới 16 tuổi: 01 vụ (02 trẻ em bị xâm hại); Các hành vi khác: 06 vụ (29 trẻ em bị xâm hại). Đã tiến hành xử lý hình sự 71 vụ; xử lý hành chính: 06 vụ.

- Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật: đã phát hiện 197 vụ, trong đó có 300 người chưa thành niên tham gia (gồm 290 nam và 10 nữ). Với các tội danh: Giết người: 05 vụ, (17 người chưa thành niên tham gia); Cướp tài sản:16 vụ (30 người chưa thành niên tham gia); Hiếp dâm, Cưỡng dâm: 02 vụ (02 người chưa thành niên tham gia); Cố ý gây thương tích: 22 vụ (54 người chưa thành niên tham gia); Trộm cắp tài sản: 66 vụ (78 người chưa thành niên tham gia); Cướp giật tài sản: 75 vụ (102 người chưa thành niên tham gia); Tổ chức sử dụng trái phép ma túy: 02 vụ (04 người chưa thành niên tham gia). Các hành vi khác: 09 vụ (13 người chưa thành niên tham gia). Đã tiến hành xử lý hình sự: 171 vụ (247 người chưa thành niên tham gia); xử lý hành chính: 26 vụ (53 người chưa thành niên tham gia).

 

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

CÁC TIN BÀI KHÁC:
thông tin cần biết
Lịch tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020



Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến đóng góp các dự án luật Quốc hội thông qua và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 - Quốc hội khoá XIV



Chương trình công tác năm 2020 của Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh



Báo cáo hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh năm 2019


Hình ảnh hoạt động
tin nổi bật
Số lượt truy cập
06419976




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn