Đăng nhập

 

Liên kết website
Tổng hợp ý kiến xây dựng các dự án luật
Tổng hợp ý kiến góp ý cho dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam

 Để chuẩn bị nội dung cho kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Đoàn đại biểu Quốc Thành phố Hồ Chí Minh đã gửi văn bản lấy ý kiến của các sở, ngành, đơn vị và các chuyên gia góp ý cho dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam,  sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV.

Dưới đây là tổng hợp các ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật:                                 

I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1- Về sự cần thiết ban hành Luật

Các ý kiến nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Biên phòng Việt Nam như  trong Tờ trình của Chính phủ, 

2- Về tên gọi và phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật 

Một số ý kiến cho rằng phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật cần được giới hạn ở bộ đội biên phòng.Vì vậy, đề nghị tên gọi của Luật là Luật Bộ đội biên phòng Việt Nam. Tên Luật Bộ đội biên phòng Việt Nam sẽ phù hợp với Luật Biên giới quốc gia (khoản 2 Điều 31); Luật Quốc phòng (khoản 1 Điều 23);  Luật Công an nhân dân; Luật Dân quân tự vệ; Luật Cảnh sát biển Việt Nam; Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam; Luật An ninh quốc gia (điểm c khoản 1 Điều 22)

3- Về cấu trúc của dự thảo Luật  

3.1- Có ý kiến cho rằng khi xác định phạm vi điều chỉnh của Luật là Bộ đội Biên phòng Việt Nam, đề nghị sử dụng cấu trúc của Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 để xây dựng dự thảo Luật vì:

+ Cảnh sát biển và bộ đội biên phòng cùng thực hiện chung nhiệm vụ bảo vệ biên giới, chỉ khác địa bàn (khu vực biên giới trên biển và khu vực  biên giới trên đất liền);

+ Khi sử dụng cấu trúc của Luật Cảnh sát biển Việt Nam để xây dựng Luật Bộ đội biên phòng Việt Nam, sẽ không mất thời gian để thảo luận về cấu trúc của Luật vì cấu trúc của Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã được thảo luận và biểu quyết nhất trí thông qua. 

3.2- Có ý kiến cho rằng bố cục của dự thảo Luật chưa có sự thống nhất giữa các Chương, Điều; có sự trùng lặp trong nội dung của các Chương, cơ cấu của dự thảo Luật biên phòng Việt Nam chưa thể hiện rõ được những đặc thù của Luật này so với Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Luật An ninh quốc gia năm 2004… (như Chương III. Hợp tác quốc tế về biên phòng có thể gộp vào một mục ở Chương II. Nhiệm vụ biên phòng, lực lượng, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng; Chương IV. Lực lượng bộ đội biên phòng có sự trùng lặp với Chương II vì chương II đã có đề cập đến lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng; Chương VI. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân thực thi nhiệm vụ biên phòng đã lồng ghép nhiều nội dung về quản lý nhà nước về biên phòng, trách nhiệm của các cơ quan, lực lượng nòng cốt thực thi nhiệm vụ biên phòng, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nên có thể tách ra và gộp vào các chương khác để quy định rõ các nội dung này…). Ý kiến này đề nghị bố cục của dự thảo Luật nên được cơ cấu lại như sau:

Chương 1. Những quy định chung (giữ nguyên như dự thảo Luật).        

Chương 2. Nhiệm vụ biên phòng, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng (phần này đề cập đến nhiệm vụ biên phòng, nguyên tắc thực thi nhiệm vụ biên phòng, nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng, phối hợp thực thi nhiệm vụ biên phòng, hợp tác quốc tế về biên phòng).

Chương 3. Lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng (phần này đề cập đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của lực lượng chuyên trách về biên phòng là lực lượng Bộ đội biên phòng và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng nòng cốt về biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân theo nội dung của Nghị quyết 33/NQ-TW).

Chương 4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân về biên phòng (phần này đề cập đến trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ; trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mật trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức; trách nhiệm của cá nhân).

Chương 5. Quản lý nhà nước về biên phòng (phần này đề cập đến nội dung quản lý nhà nước về biên phòng, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao trong quản lý nhà nước về biên phòng; chế độ, chính sách về biên phòng).

Chương 6. Điều khoản thi hành (giữ nguyên như dự thảo Luật).

3.3- Có ý kiến đề nghị:

- Chuyển  Điều 6 từ Chương II (Nhiệm vụ biên phòng; lực lượng, biện pháp thực hiện nhiệm vụ biên phòng ) về Chương I (Những quy định chung) để đảm bảo tính logic và phù hợp.

- Chuyển Điều 17 từ Chương IV (Lực lượng bộ đội biên phòng) về Chương II (Nhiệm vụ biên phòng; Lực lượng, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng) để phù hợp với nội hàm của Chương II và Chương IV.

3.4- Có ý kiến cho rằng một trong những yêu cầu cần thiết ban hành Luật Biên phòng Việt  Nam là kế thừa và phát triển Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng, bổ sung một số nhiệm vụ từ yêu cầu của tình hình thực tế hiện nay vào Luật cho phù hợp với các quy định của các luật khác (về nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân…). Tuy nhiên, nội dung dự thảo Luật gốm 34 Điều nhưng chỉ mới tập trung cho các nội dung liên quan đến lực lượng Bộ đội Biên phòng mà thiếu quy định đến nội dung “biên phòng”. 

4- Một số chế định cần bổ sung vào dự thảo Luật

4.1- Một số ý kiến đề nghị cần nghiên cứu bổ sung các quy định cụ thể để thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 08/8/1995 của Bộ Chính trị về “Xây dựng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia”:

 + Xác định lực lượng vũ trang là quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ; trong đó Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách;

+ Tương ứng với vị trí, vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 33-NQ/TW quy định một số nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng chỉ đạo BĐBP trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng và nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng theo “chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia”. Chẳng hạn như nhiệm vụ xử lý các tình huống về an ninh, an toàn trên biên giới, vùng biển, đảo; hợp tác quốc tế về thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ biên giới quốc gia trên biên giới đất liền, các hải đảo, vùng biển mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng, đối ngoại biên giới… Các chủ trương này của Nghị quyết số 33-NQ/TW đặt ra yêu cầu phải thể chế hóa đầy đủ để quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

4.2- Trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng ở địa bàn biên giới, chủ yếu là cán bộ chiến sĩ các đồn biên phòng, ngoài ra còn có nhân dân vùng biên. Vì thế trong xây dựng Luật, cần nghiên cứu chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho lực lượng quần chúng cùng tham gia phối hợp tuần tra, bảo vệ, giữ gìn mốc giới, đường biên.

4.3- Dự thảo Luật xác định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các bộ: Quốc phòng, Công an và Ngoại giao. Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ biên phòng là trách nhiệm không chỉ của 03 bộ nêu trên, mà các bộ ngành khác theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực được phân công cũng có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ Biên phòng. Vì vậy, cần nghiên cứu, rà soát trách nhiệm của các bộ, ban, ngành có liên quan và quy định cụ thể trong Luật nhằm tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm đạt hiệu quả cao hơn trong quá trình tổ chức, triển khai thi hành Luật.

4.4- Đề nghị bổ sung một Điều quy định về trách nhiệm của Chủ tịch Nước đối với biên phòng để phù hợp với quy định tại Điều 86 Hiến pháp năm 2013 (Chủ tịch Nước là người đứng đầu nhà nước), khoản 5 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 (Chủ tịch Nước có nhiệm vụ và quyền hạn thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân).

4.5- Đề nghị cần quy định cụ thể trong dự thảo Luật về cơ chế phối hợp: khi có nhiều lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ trên cùng một địa bàn thì lực lượng nào là chỉ huy, lực lượng nào là phối hợp. Từ đó tạo cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, tránh xảy ra tình trạng trùng lắp hoặc khoảng trống trong chỉ đạo gây khó khăn, có thể làm lỡ thời cơ hoàn thành nhiệm vụ.

II- GÓP Ý MỘT SỐ ĐIỀU KHOẢN CỤ THỂ

1- Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

- Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “thế trận biên phòng toàn dân” vào nội dung phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật vì trong nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân là rất quan trọng. Đồng thời, đề nghị bổ sung hợp tác quốc tế về biên phòng vào Điều 1 vì Chương III của dự thảo Luật quy định về hợp tác quốc tế về biên phòng gồm 3 Điều (Điều 11, Điều 12, Điều 13). Điều 1 viết lại như sau “Luật này quy định chính sách, nguyên tắc, lực lượng nòng cốt, chuyên trách, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng, nền biên phòng toàn dân, hợp tác quốc tế về biên phòng, nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về biên phòng”.

- Có ý kiến đề nghị sửa Điều 1 như sau: “Luật này quy định chính sách, nguyên tắc về biên phòng, biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng, nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân; lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng, quản lý nhà nước về biên phòng, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về biên phòng”.  

Ý kiến này cho rằng việc sử dụng thuật ngữ “lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng” sẽ bao quát và đầy đủ hơn so với thuật ngữ “lực lượng nòng cốt, chuyên trách”. Bổ sung nội dung “quản lý nhà nước về biên phòng” để nhấn mạnh nội dung này trong công tác biên phòng và là cơ sở để tách nội dung quản lý nhà nước này thành một chương riêng trong Luật biên phòng Việt Nam.

2- Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

- Có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích về khái niệm: sự thống lĩnh của Chủ tịch nước; nền biên phòng toàn dân; thế trận biên phòng toàn dân.

- Khoản 1:

+ Có ý kiến đề nghị sửa khái niệm Biên phòng như sau “Biên phòng là công cuộc bảo vệ sự toàn vẹn, bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia; phòng ngừa, đấu tranh, xử lý đối với các âm mưu, hoạt động của các đối tượng xâm phạm đến sự toàn vẹn, bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia và các hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức có liên quan ở khu vực biên giới”.

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung vào nội dung khoản 1 cụm từ “lực lượng chuyên trách” để phù hợp với quy định tại Điều 1, Điều 7 dự thảo Luật. Khoản 1 viết lại như sau: “Biên phòng là công cuộc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; trong đó các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương, lực lượng chuyên trách, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”.

3- Về chính sách của Nhà nước về biên phòng (Điều 3)

Khoản 3: có ý kiến đề nghị sửa cụm từ “khác” thành “cần thiết”. Khoản 3 sửa lại như sau: “… sử dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền,…”.

4- Về nhiệm vụ biên phòng  (Điều 5)

Có ý kiến đề nghị cần rà soát để bổ sung hoàn thiện về nhiệm vụ biên phòng (Điều 5) và nhiệm vụ Bộ đội Biên phòng (Điều 15), mối quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng và Hải quan trong kiểm soát người và phương tiện qua cửa khẩu.

Khoản 8: có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung khoản 8 như sau: “Tham mưu cho cấp có thẩm quyền trong công tác đối ngoại biên phòng. Hợp tác quốc tế về biên phòng, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.

5- Về lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 7)

Khoản 1: có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “tham gia thực thi nhiệm vụ biên phòng” vào nội dung khoản 1. Khoản 1 viết lại như sau: “Nhân dân ở khu vực biên giới tham gia thực thi nhiệm vụ biên phòng”.

6- Về nền biên phòng toàn dân (Điều 8)

- Khoản 1: có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “tổng hợp” vào nội dung khoản 1. Khoản 1 sửa lại như sau: “Nền biên phòng toàn dân là tổng hợp sức mạnh phòng thủ biên giới...

- Điểm a khoản 2: có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “chăm lo cho” vào nội dung điểm a khoản 2. Điểm a khoản 2 viết lại như sau: “Xây dựng hệ thống chính trị và chăm lo cho nhân dân;...”.

5- Về biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 9)

Khoản 2 quy định “Chính phủ quy định chi tiết biện pháp nghiệp vụ tại khoản 1 Điều này”. Có ý kiến cho rằng cần xem lại nội dung khoản 2 Điều 9 vì các biện pháp tại khoản 1 Điều 9 liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân nên cần quy định cụ thể trong luật là các biện pháp nghiệp vụ gì hoặc phải dẫn chiếu theo quy định cụ thể của luật chuyên ngành phù hợp.

6- Về phối hợp thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 10)

- Điểm b khoản 1: có ý kiến đề nghị sửa như sau“Các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh, tổ chức có liên quan có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng trong thực thi nhiệm vụ biên phòng trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình” để xác định rõ phạm vi chủ trì của các chủ thể này với phạm vi chủ trì của Bộ Quốc phòng.

-  Có ý kiến nhất trí với ý kiến của Ủy ban Pháp luật trong Báo cáo thẩm tra dự án Luật Biên phòng Việt Nam khi xác định có sự mâu thuẫn giữa điểm a khoản 1 và điểm b khoản 1 Điều 10 sự phối hợp, chủ trì. Ý kiến này đề nghị cần sửa khoản 1 Điều 10 để quy định rõ vai trò chủ trì của Bộ Quốc phòng trong thực thi nhiệm vụ biên phòng ở cấp Bộ và vai trò chủ trì của lực lượng chuyên trách về biên phòng trong thực thi nhiệm vụ biên phòng ở khu vực biên giới mà mình phụ trách. Khoản 1 Điều 10 sửa như sau:

1. Phạm vi phối hợp:

a. Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương cấp tỉnh trong thực thi nhiệm vụ biên phòng;

  b. Lực lượng chuyên trách về biên phòng chủ trì, phối hợp với lực lượng nòng cốt về biên phòng, các cơ quan, tổ chức ở khu vực biên giới có liên quan trong thực thi nhiệm vụ biên phòng”.  

Bên cạnh đó, để phù hợp với việc chỉnh sửa tại khoản 1 Điều 10 như trên, ý kiến này đề nghị sửa khoản 4 Điều 10 như sau: “Chính phủ quy định chi tiết về phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương trong thực thi nhiệm vụ biên phòng; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa lực lượng nòng cốt về biên phòng, các cơ quan, tổ chức ở khu vực biên giới có liên quan trong thực thi nhiệm vụ biên phòng”.

7- Nguyên tắc hợp tác quốc tế về biên phòng (Điều 11)

Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác” vào nội dung Điều 11 vì đây là một tiêu chí rất quan trọng trong tình hình hiện nay. Điều 11 sửa lại như sau: “Tuân thủ Hiến pháp, luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở khu vực biên giới; tôn trọng các nguyên tắc thực thi nhiệm vụ biên phòng được quy định tại Luật này.”

8- Về nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng ( Điều 15)

- Các ý kiến nhất trí với quy định Bộ đội Biên phòng chủ trì thực hiện nhiệm vụ duy trì an ninh, trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật (khoản 3 Điều 15) và có quyền hạn kiểm tra, kiểm soát, xử lý phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu (khoản 4 Điều 15, khoản 2 Điều 16). Vì theo quy định hiện hành, lực lượng Bộ đội Biên phòng chỉ có thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát, giám sát xuất nhập cảnh, quá cảnh đối với người ở cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng, còn việc kiểm soát hàng hóa, phương tiện được giao cho lực lượng hải quan dẫn đến trên thực tế, một số trường hợp lợi dụng các phương tiện xuất nhập cảnh, quá cảnh qua biên giới để thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội như phương tiện chở tài liệu phản động, vũ khí, vật liệu nổ… nhưng lực lượng Bộ đội Biên phòng lại không có quyền kiểm tra, kiểm soát đối với các phương tiện này. Tuy nhiên, ý kiến này cho rằng cần rà soát lại hai nội dung để thống nhất với quy định của Luật biên giới Quốc gia.

- Khoản 4: có ý kiến cho rằng nội dung khoản 4 Điều 15 chưa phù hợp với quy định tại Điều 12 Luật Hải quan năm 2014. Đề nghị sửa lại khoản 4 như sau: “Kiểm soát người xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu do Bộ Quốc phòng quản lý theo quy định của pháp luật”. Như vậy sẽ cụ thể đối tượng kiểm soát của Bộ đội Biên phòng là người xuất nhập cảnh nhằm phân biệt đối tượng kiểm soát của cơ quan Hải quan là phương tiện xuất, nhập cảnh.  

9- Về quyền hạn của Bộ đội Biên phòng (Điều 16)

- Khoản 2: có ý kiến đề nghị bổ sung từ “người” vào sau cụm từ “xử lý” trong nội dung khoản 2 Điều 16. Ý kiến này cho rằng trong các văn bản quy phạm pháp luật đều quy định con người (cá nhân) là chủ thể chính thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, nếu chỉ quy định phương tiện thì thiếu chủ thể chính thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Khoản 2 viết lại như sau: “Áp dụng các biện pháp thực thi nhiệm vụ biên phòng, hình thức quản lý, bảo vệ biên giới theo quy định tại Điều 9, Điều 17 của Luật này; cấp thị thực và các loại giấy phép trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Quốc phòng; kiểm tra, kiểm soát, xử lý người, phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật”.

- Khoản 3 quy định Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cấp tỉnh được quyền quyết định hạn chế hoặc tạm ngừng các hoạt động ở khu vực biên giới, cửa khẩu, qua lại biên giới vì lý do đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn tính mạng của nhân dân, đảm bảo sức khỏe cộng đồng. Theo khoản 2 Điều 21 Luật Biên giới quốc gia, thẩm quyền quyết định việc hạn chế, tạm ngừng lại biên giới quốc gia, kể cả việc đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam vì lý do quốc phòng, an ninh, lý do đặc biệt khác hoặc theo đề nghị của nước hữu quan do Chính phủ quy định. Quyết định về việc hạn chế, tạm ngừng phải được thông báo cho chính quyền địa phương và nhà chức trách của nước hữu quan biết. Theo quy định của Điều 17 Nghị định số 112/2014/NĐ-CP thì Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cấp tỉnh có quyền hạn chế hoặc tạm dừng các hoạt động qua lại biên giới tại các cửa khẩu, nhưng có giới hạn ở loại cửa khẩu và thời gian hạn chế hoặc tạm dừng.

Như vậy. quy định tại khoản 3 Điều 16 là trao quyền quá lớn cho Đồn trưởng Đồn Biên phòng và Chỉ huy trưởng Biên phòng cấp tỉnh. Việc hạn chế hoặc tạm ngừng các hoạt động qua lại biên giới có ảnh hưởng lớn đến quan hệ ngoại giao với nước láng giềng, cần phải thông báo cho nước láng giềng theo đường ngoại giao, đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 16 như sau: “Trường hợp vì lý đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn tính mạng của nhân dân, đảm bảo sức khỏe cộng đồng, Đồn trưởng Đồn Biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng cấp tỉnh được quyền quyết định hạn chế hoặc tạm dừng các hoạt động ở khu vực biên giới, cửa khẩu, qua lại biên giới theo quy định của Chính phủ”. 

Cũng có ý kiến cho rằng không cần thiết phải quy định nội dung quyền hạn này cho Bộ đội Biên phòng vì Luật biên giới quốc gia năm 2003 đã quy định Chính phủ có thẩm quyền hạn chế hoặc tạm ngừng qua lại biên giới của người, phương tiện, hàng hóa, đồng thời Luật Quốc phòng 2018 đã quy định Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có thẩm quyền ban bố lệnh giới nghiêm. Ngay cả Bộ Quốc phòng cũng không được trao quyền hạn chế hoặc tạm ngừng qua lại biên giới nên sẽ không có cơ sở pháp lý để trao quyền như vậy cho một lực lượng chức năng thuộc Bộ Quốc phòng.

- Khoản 6 quy định Bộ đội Biên phòng được huy động, trưng dụng theo quy định của pháp luật đối với phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người sử dụng, điều khiển phương tiện. Tuy nhiên, trong Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2018 chưa quy định thẩm quyền của Bộ đội Biên phòng về trung dụng tài sản, phương tiện và con người. Ý kiến này cho rằng việc trưng dụng tài sản, phương tiện và con người là hết sức cần thiết trong trường hợp cấp thiết như đã nêu trong khoản 6, Điều 16.  Đề nghị cần nghiên cứu, rà soát để đảm bảo tính thống nhất của luật pháp, trong trường hợp cần thiết có thể kiến nghị bổ sung, sửa đổi mội số điều liên quan quan của Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản hiện hành.

Cũng có ý kiến cho rằng không cần thiết quy định quyền trưng dụng tài sản của Bộ đội Biên phòng vì Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản năm 2008 không quy định thẩm quyền của Bộ đội Biên phòng về trưng dụng tài sản, phương tiện mà chỉ cần quy định quyền huy động tài sản, phương tiện của cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật, tìm kiếm cứu nạn ở khu vực biên giới. Ý kiến này đề nghị sửa quy định tại khoản 6 Điều 16 theo hướng như sau: “Trong trường hợp khẩn cấp để bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật, tìm kiếm cứu nạn ở khu vực biên giới chiến sỹ Bộ đội Biên phòng có quyền huy động phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người sử dụng, điều khiển phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam.

Việc huy động theo quy định tại khoản 6 Điều này phải phù hợp với khả năng thực tế của người và phương tiện được huy động và phải hoàn trả ngay khi tình thế khẩn cấp chấm dứt.

Trường hợp người, tài sản được huy động làm nhiệm vụ mà bị thiệt hại thì được hưởng chế độ, chính sách, đền bù theo quy định của Luật này; đơn vị có cán bộ, chiến sĩ huy động có trách nhiệm giải quyết việc đền bù theo quy định của pháp luật.

10- Về trang bị của Bộ đội Biên phòng (Điều 19)

Có ý kiến cho rằng việc quy định bộ đội biên phòng được trang bị máy bay là chủ trương lớn, tạo điều kiện để Bộ đội Biên phòng được xây dựng theo hướng hiện đại, bảo đảm tính kịp thời khi có tình huống xảy ra. Tuy nhiên, ý kiến này đề nghị nên nghiên cứu, đánh giá thật thấu đáo quy định này, bảo đảm sự phù hợp với tình hình thực tế trong thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng cũng như tính khả thi của quy định. Vì để bảo đảm cho hoạt động của máy bay có hiệu quả, an toàn cần rất nhiều yếu tố như: con người, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật...để bảo đảm cho hoạt động bay. Đặc biệt trong điều kiện sử dụng máy bay để thực hiện các nhiệm vụ Biên phòng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần phải tính đến khả năng đáp ứng các điều kiện về đường lăn, sân đỗ, bãi cất hạ cánh...

Có ý kiến đề nghị có thể quy định trang bị máy bay trực thăng (máy bay lên thẳng) cho lực lượng Bộ đội Biên phòng  như vậy sẽ khả thi và hiệu quả hơn trong tình hình thực tế hiện nay.

11- Về Ngày truyền thống; tên giao dịch quốc tế; con dấu của Bộ đội Biên phòng (Điều 20)

Các ý kiến nhất trí chọn Ngày 03 tháng 3 hàng năm là Ngày truyền thống của Bộ đội biên phòng và là ngày biên phòng toàn dân vì ngày đó là đã đi vào lịch sử nền biên phòng Việt Nam. Quy định này đã được xác định tại khoản 2 Điều 28 Luật Biên giới quốc gia.

Khoản 2: có ý kiến đề nghị sửa như sau: Tên giao dịch quốc tế của Bộ đội Biên phòng là Vietnam Border Guard (viết tắt VBG).

 12- Về Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 25)

Khoản 4 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có thành tích xuất sắc trong thực thi nhiệm vụ biên phòng, tham gia phối hợp, cộng tác, hỗ trợ giúp đỡ lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng được khen thưởng theo quy định pháp luật về người có công...”.

Có ý kiến đề nghị cần xem lại quy định về cơ quan, tổ chức, cá nhân  nước ngoài có thành tích xuất sắc trong thực thi nhiệm vụ biên phòng bảo đảm phù hợp với Khoản 2 Điều 3“Thực thi nhiệm vụ biên phòng là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền...”. Như vậy chủ thể có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ biên phòng là tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài không thể có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ biên phòng, mà chỉ là đối tượng phải thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về biên phòng. Vì vậy nên quy định rõ hơn về việc khen thưởng tổ chức, cá nhân nước ngoài có thành tích nhưng không phải là thành tích trong thực thi nhiệm vụ biên phòng.

Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “hưởng chính sách vào nội dung khoản 4. Khoản 4 Điều 25 viết lại như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có thành tích xuất sắc trong thực thi nhiệm vụ biên phòng, tham gia phối hợp, cộng tác, hỗ trợ, giúp đỡ lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng hưởng chính sách, được khen thưởng theo quy định pháp luật về người có công; bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường; bị tổn hại về danh dự, nhân phẩm thì được khôi phục; người bị thương tích, tổn hại sức khỏe, tính mạng thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật”.

13- Về trách nhiệm của cá nhân (Điều 33)

Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ tham gia vào nội dung Điều 33 sẽ  phù hợp với Điều 68 Hiến pháp năm 2013. Điều 33 viết lại như sau: Mọi cá nhân có trách nhiệm tham gia, xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới; tham gia, cộng tác, hỗ trợ, giúp đỡ lực lượng nòng cốt, chuyên trách thực thi nhiệm vụ biên phòng

CÁC TIN BÀI KHÁC:
thông tin cần biết
Lịch tiếp xúc cử tri sau kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020



Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến đóng góp các dự án luật Quốc hội thông qua và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 - Quốc hội khoá XIV



Chương trình công tác năm 2020 của Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh


Hình ảnh hoạt động
tin nổi bật
Số lượt truy cập
06583541




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn