Đăng nhập

 

Liên kết website
TRẢ LỜI CỦA BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG
Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời kiến nghị cử tri thành phố Hồ Chí Minh gửi tới kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV

1. Cử tri tiếp tục phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là nguồn nước và không khí vẫn còn xảy ra ở các khu công nghiệp, khu dân cư, nông thôn và đô thị, ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ người dân. Cử tri đề nghị đề cao trách nhiệm trong quản lý và nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân trong bảo vệ môi trường; tăng cường đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, khoáng sản, quan tâm tăng cường công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các vi phạm.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ với những lo ngại của cử tri về tình trạng ô nhiễm môi trường trong giai đoạn hiện nay và xin được báo cáo như sau:

Công tác bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm môi trường, nhất là nguồn nước, không khí tại các khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn, làng nghề và đô thị được Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương cũng như toàn xã hội hết sức quan tâm. Nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp quản lý đã được ban hành, tổ chức triển khai thực hiện. Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra nhưng xu hướng tăng mạnh như trước đây được giảm dần. Đến nay đã có 88,3% các khu công nghiệp hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập; gần 70% khu công nghiệp đã lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục. Đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường.

Tuy nhiên, đúng như cử tri phản ánh, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn diễn ra tại một số khu vực, một số thời điểm, gây bức xúc, lo lắng cho Nhân dân. Trong thời gian tới, Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp để hạn chế, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, cụ thể như:

- Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác quản lý, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các xung đột, tranh chấp về môi trường gây mất ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án sửa đổi Luật bảo vệ môi trường, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo hướng kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, tăng chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

- Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của đường dây nóng tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương; tập trung đẩy mạnh, làm tốt hơn việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các thông tin; mở rộng hệ thống đường dây nóng đến cấp huyện, cấp xã nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc gây ô nhiễm môi trường, ngăn chặn đến mức thấp nhất các sự cố môi trường có thể xảy ra.

- Yêu cầu các khu công nghiệp tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động, không cho phép thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp hoặc thực hiện thủ tục mở rộng khu công nghiệp khi không có hoặc chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thực hiện giám sát chặt chẽ việc thu hút đầu tư các ngành nghề phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.

- Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, xử lý khí thải của các cơ sở trong khu công nghiệp; nhất là thanh tra, kiểm tra đột xuất, tổ chức thanh tra, kiểm tra theo loại hình, vùng, theo hình thức cuốn chiếu để đánh giá đầy đủ, toàn diện, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm các vi phạm. Tổ chức thanh tra theo vùng để nắm bắt và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về môi trường. Đồng thời tiếp tục chỉ đạo các địa phương duy trì hoạt động giám sát thường xuyên đối với các dự án lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đẩy mạnh việc kết nối truyền số liệu quan trắc môi trường của các cơ sở phát sinh chất thải lớn trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, giám sát.

- Tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hóa nguồn tài chính cho công tác BVMT (ngân sách nhà nước; các dự án, chương trình tài trợ trong và ngoài nước; Quỹ BVMT Việt Nam; Quỹ BVMT của địa phương huy động vốn từ cộng đồng, hợp tác công tư,...). Ưu tiên xã hội hóa, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế chất thải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và hiện trạng chất thải của nước ta. Có cơ chế đột phá để huy động các nguồn tài chính từ nguồn lực xã hội, bên cạnh các nguồn lực tài chính của nhà nước để phục hồi, xử lý ô nhiễm môi trường, cơ chế sử dụng nguồn thu từ môi trường đầu tư trở lại cho môi trường.

Về vấn đề quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản: Ngày 30/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản; nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu trong quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản và bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản; chỉ đạo kiểm tra, xử lý đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ từ khâu hoàn thiện thể chế quản lý khoáng sản đến công tác cấp phép hoạt động khoáng sản, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định: (1) số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản (gọi tắt là Nghị định 158) thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012; (2) số 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (gọi tắt là Nghị định 33) thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013.

Nghị định 158/2016/NĐ-CP đã bổ sung nhiều nội dung mới và quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi được giao quyền khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại Chương III; hướng dẫn nội dung Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác trái phép kéo dài mà không xử lý…

Nghị định số 33/2017/NĐ-CP đã bổ sung, điều chỉnh theo hướng nâng mức phạt đối với một số hành vi, nhất là hành vi khai thác cát, sỏi trái phép; bổ sung thêm các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt cho Uỷ ban nhân dân cấp các cấp nhằm kịp thời ngăn chặn các sai phạm trong khai thác khoáng sản. Mặt khác, Bộ đã thực hiện nhiều hình thức phổ biến pháp luật về khoáng sản; đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề theo từng loại khoáng sản; thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân để xử lý đối với các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương trong việc nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

2. Cử tri phản ánh việc sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản ở một số địa phương không theo quy hoạch; việc đền bù, tái định cư khi thu hồi đất chưa công khai, minh bạch; giá bồi thường chưa phù hợp; còn một số sai phạm, tham nhũng trong lĩnh vực đất đai chưa được giải quyết thỏa đáng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài. Cử tri đề nghị tăng cường công tác quản lý; thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản; tăng cường đối thoại với nhân dân, xử lý nghiêm các vi phạm (Cử tri Thành phố Hồ Chí Minh)

Bộ Tài nguyên và Môi trường đồng tình với phản ánh của cử tri. Trong thời gian qua, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết thi hành ngày càng được hoàn thiện, tạo khuôn khổ pháp lý trong quản lý, sử dụng đất đai hiệu quả hơn. Công tác quản lý đất đai minh bạch và rõ ràng hơn, góp phần quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng, giảm khiếu kiện.

Song song với công tác hoàn thiện thể chế, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, từng bước đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp giúp giảm khiếu kiện. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án 1675 về tăng cường xử lý sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai giai đoạn đến năm 2020, Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2018 về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số 1850/BTNMT-TCQLĐĐ để hướng dẫn, đôn đốc các địa phương, trong đó đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật đất đai, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác quản lý, sử dụng đất đai; yêu cầu các địa phương phải tăng cường chỉ đạo việc phối hợp và làm rõ trách nhiệm giữa cơ quan, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện và xử lý các vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương mình. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn có tình trạng như cử tri nêu, trong thời tới Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục tham mưu cho Chính phủ để chỉ đạo việc xây dựng các chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra để khắc phục những tồn tại nêu trên.

Về công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật trong lĩnh vực khoáng sản đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quan tâm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác trái phép, vi phạm pháp luật vẫn còn diễn ra, ngoài việc thất thoát khoáng sản còn ảnh hưởng xấu đến môi trường, môi sinh như phản ánh của cử tri.

Trước thực trạng này, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước, ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, nhất là khai thác trái phép cát, sỏi lòng sông. Theo đó, Chính phủ đã quy định cụ thể trách nhiệm quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác của Ủy ban nhân dân các cấp tại Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản, đồng thời đã bổ sung hành vi, tăng mức xử phạt đối với một số hành vi, nhất là khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép lên 2-3 lần trong Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 về tăng cường hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản; Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình đã chủ trì 01 cuộc họp trực tuyến các Bộ, ngành liên quan với 63 tỉnh thành phố; 02 cuộc họp trực tiếp với các tỉnh, thành phố có hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép kéo dài, phức tạp (mới đây là 3/4/2019) để bàn các giải pháp ngăn chặn vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra lĩnh vực khoáng sản; triển khai kiểm tra tại một số địa phương về tình hình thu hồi cát từ các dự án nạo vét, khơi thông luồng lạch; đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-BTNMT ngày 13/01/2016 quy định kỹ thuật về công tác thăm dò cát, sỏi lòng sông và đất, đá làm vật liệu san lấp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ban hành nhiều Chỉ thị, văn bản chỉ đạo điều hành; đã có gần 40 tỉnh, thành phố xây dựng và phê duyệt phương án bảo vệ khoáng sản, trong đó quy định trách nhiệm Uỷ ban nhân dân các cấp huyện, xã trong quản lý khoáng sản trên địa bàn; ngoài việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra đã có 45 tỉnh, thành phố ban hành quy chế phối hợp trong quản lý khoáng sản, trong đó có cát, sỏi lòng sông tại các khu vực giáp ranh địa giới hành chính khu vực giáp ranh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm lĩnh vực khoáng sản nói chung, cát sỏi nói riêng.

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Nghị định quản lý cát, sỏi lòng sông và bảo vệ lòng, bờ, bãi sông và trình Chính phủ trong tháng 7 năm 2019. Nội dung chính của Nghị định thể hiện 05 chính sách, đó là: (1) quản lý cát, sỏi theo quy định Luật khoáng sản gắn với trách nhiệm bảo vệ lòng bờ, bãi sông theo quy định của Luật tài nguyên nước; (2) quản lý, cấp phép, sử dụng cát, sỏi lòng sông trên lưu vực sông phải gắn với trách nhiệm của địa phương theo địa giới hành chính; (3) quản lý cát, sỏi lòng sông chặt chẽ từ lập quy hoạch, cấp phép thăm dò, khai thác đến hoạt động mua bán, vận chuyển, tập kết; (4) cấp phép thăm dò, khai thác cát, sỏi chủ yếu thông qua hình thức đấu giá; (5) khuyến khích sử dụng nguyên liệu thay thế cát, sỏi lòng sông từ đá và vật liệu giàu silic.

3. Cử tri tiếp tục đề nghị tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; có giải pháp nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân trong việc bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, khoáng sản, quan tâm tăng cường công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các vi phạm (Cử tri thành phố Hồ Chí Minh)

Bộ Tài nguyên và Môi trường chia sẻ kiến nghị của cử tri về tình trạng ô nhiễm môi trường trong giai đoạn hiện nay. Công tác bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm môi trường được Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương cũng như toàn xã hội hết sức quan tâm. Nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp quản lý đã được ban hành, tổ chức triển khai thực hiện. Theo đó, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến tích cực. Bức tranh toàn cảnh về môi trường hiện nay của Việt Nam đã xuất hiện các gam màu sáng, khu vực, địa bàn, địa phương, lĩnh vực làm tốt về công tác bảo vệ môi trường dần mở rộng; các tồn đọng, vấn đề môi trường bức xúc được thu hẹp dần.

Tuy nhiên, thực tế là tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn diễn ra tại một số khu vực, một số thời điểm, gây bức xúc, lo lắng cho nhân dân như cử tri đã phản ánh. Điều này xuất phát từ ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp còn chưa cao; các vi phạm của cơ sở có xu hướng ngày càng tinh vi, mang tính chống đối cao trong khi lực lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra về môi trường còn mỏng, lại bị ràng buộc bởi các quy định của Luật thanh tra nên việc phát hiện hành vi vi phạm là hết sức khó khăn.

Thời gian tới, Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp để hạn chế, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, cụ thể như sau:

- Hoàn thiện hệ thống, chính sách pháp luật đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác quản lý, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các xung đột, tranh chấp về môi trường gây mất ổn định chính trị, an ninh trật tự xã hội. Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ xây dựng dự án sửa đổi Luật bảo vệ môi trường, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo hướng kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường, tăng chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

- Tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của đường dây nóng tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương; tập trung đẩy mạnh, làm tốt hơn việc tiếp nhận, xác minh và xử lý các thông tin; mở rộng hệ thống đường dây nóng đến cấp huyện, cấp xã nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc gây ô nhiễm môi trường, ngăn chặn đến mức thấp nhất các sự cố môi trường có thể xảy ra.

- Yêu cầu các khu công nghiệp tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường trước khi đi vào hoạt động, không cho phép thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp hoặc thực hiện thủ tục mở rộng khu công nghiệp khi không có hoặc chưa hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thực hiện giám sát chặt chẽ việc thu hút đầu tư các ngành nghề phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt.

- Tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp, xử lý khí thải của các cơ sở trong khu công nghiệp; nhất là thanh tra, kiểm tra đột xuất, tổ chức thanh tra, kiểm tra theo loại hình, vùng, theo hình thức cuốn chiếu để đánh giá đầy đủ, toàn diện, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm các vi phạm. Tổ chức thanh tra theo vùng để nắm bắt và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về môi trường. Đồng thời tiếp tục chỉ đạo các địa phương duy trì hoạt động giám sát thường xuyên đối với các dự án lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đẩy mạnh việc kết nối truyền số liệu quan trắc môi trường của các cơ sở phát sinh chất thải lớn trực tiếp về Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, giám sát.

- Tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hóa nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường (ngân sách nhà nước; các dự án, chương trình tài trợ trong và ngoài nước; Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ Bảo vệ môi trường của địa phương huy động vốn từ cộng đồng, hợp tác công tư,...). Ưu tiên xã hội hóa, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ cho việc phát triển các công nghệ xử lý, tái chế chất thải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, khí hậu và hiện trạng chất thải của nước ta. Có cơ chế đột phá để huy động các nguồn tài chính từ nguồn lực xã hội, bên cạnh các nguồn lực tài chính của nhà nước để phục hồi, xử lý ô nhiễm môi trường, cơ chế sử dụng nguồn thu từ môi trường đầu tư trở lại cho môi trường.

Về vấn đề quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản: Ngày 30/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản; nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu trong quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản và bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản; chỉ đạo kiểm tra, xử lý đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ từ khâu hoàn thiện thể chế quản lý khoáng sản đến công tác cấp phép hoạt động khoáng sản, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, Bộ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định: (1) số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản (gọi tắt là Nghị định158) thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012; (2) số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (gọi tắt là Nghị định 33) thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013.

Nghị định số 158/2016/NĐ-CP đã bổ sung nhiều nội dung mới và quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi được giao quyền khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại Chương III; hướng dẫn nội dung Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác trái phép kéo dài mà không xử lý…

Nghị định số 33/2017/NĐ-CP đã bổ sung, điều chỉnh theo hướng nâng mức phạt đối với một số hành vi, nhất là hành vi khai thác cát, sỏi trái phép; bổ sung thêm các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt cho Uỷ ban nhân dân cấp các cấp nhằm kịp thời ngăn chặn các sai phạm trong khai thác khoáng sản. Mặt khác, Bộ đã thực hiện nhiều hình thức phổ biến pháp luật về khoáng sản; đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề theo từng loại khoáng sản; thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân để xử lý đối với các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương trong việc nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản cơ bản đã hoàn thiện với: 01 Luật, 08 Nghị định (trong đó có 03 Nghị định mới được ban hành để thay thế), 05 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 52 Thông tư, thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các Bộ liên quan. Các quy định của Luật và các văn bản dưới Luật theo hướng chặt chẽ, minh bạch và bền vững. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản và chấn chỉnh hoạt động khoáng sản của tổ chức, cá nhân. Qua kiểm tra, thanh tra và báo cáo định kỳ về công tác quản lý nhà nước về khoáng sản của các địa phương cho thấy hoạt động khoáng sản của các tổ chức, cá nhân đã dần đi vào nề nếp; việc quản lý và cấp phép hoạt động khoáng sản đã tuân thủ theo đúng quy hoạch, quy định của pháp luật về khoáng sản.

Ngày 30/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan và các địa phương thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về khoáng sản; nhất là công tác thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về khoáng sản, thanh tra trách nhiệm đối với các tổ chức hành chính và người đứng đầu trong quản lý nhà nước về khoáng sản, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về khoáng sản và bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản; chỉ đạo kiểm tra, xử lý đối với các cơ sở chế biến, sử dụng khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, các cơ sở chế biến có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ từ khâu hoàn thiện thể chế quản lý khoáng sản đến công tác cấp phép hoạt động khoáng sản, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về khoáng sản. Theo đó, từ năm 2015 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Nghị định: (1) số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản (sau đây gọi tắt là Nghị định 158) thay thế Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09/3/2012; (2) số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản (sau đây gọi tắt là Nghị định 33) thay thế Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013. Theo đó, Nghị định 158 đã bổ sung nhiều nội dung mới và quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý khoáng sản, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp khi được giao quyền khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, đã quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý bảo vệ khoáng sản chưa khai thác tại Chương III; hướng dẫn nội dung Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu các địa phương nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác trái phép kéo dài mà không xử lý…Nghị định 33 đã bổ sung, điều chỉnh theo hướng nâng mức phạt đối với một số hành vi, nhất là hành vi khai thác cát, sỏi trái phép; bổ sung thêm các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt cho UBND các cấp nhằm kịp thời ngăn chặn các sai phạm trong khai thác khoáng sản. Mặt khác, Bộ đã thực hiện nhiều hình thức phổ biến pháp luật về khoáng sản; đưa vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm của Bộ nội dung thanh tra, kiểm tra chuyên đề theo từng loại khoáng sản; thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân để xử lý đối với các hành vi gây tổn thất lớn khoáng sản, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phối hợp với các địa phương trong việc nắm bắt thông tin, kiểm tra, xử lý hoạt động khai thác khoáng sản trái phép.

4. Cử tri cho rằng công tác xử lý rác và phân loại rác tại nguồn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, cần áp dụng nhiều biện pháp để xử lý rác khó phân huỷ như rác thải nhựa. Cử tri đề nghị trong thời gian tới cần có quy định hạn chế, tiến tới cấm nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất sản phẩm nhựa để thực hiện có hiệu quả hơn phong trào chống rác thải nhựa (Cử tri thành phố Hồ Chí Minh)

Vấn đề ô nhiễm do rác thải nhựa và chất thải rắnlà vấn đề nóng và nhận được sự quan tâm của người dân và xã hội. Trước thực trạng này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/02/2019, trong đó chính thức giao Bộ Tài nguyên và Môi trường giúp Chính phủ thống nhất quản lý chất thải rắn trên phạm vi cả nước; Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 17/9/2018 về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khẩn trương rà soát, trình Chính phủ báo cáo kết quả rà soát và đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thực hiện phương án thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn; tổ chức đồng loạt các đoàn kiểm tra công tác quản lý chất thải rắn tại các địa phương; trình Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, trong đó đã sửa đổi, bổ sung các quy định thắt chặt việc quản lý việc nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Đặc biệt, tại Khoản 6 Điều 56 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Khoản 29 Điều 3 Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đã quy định: Đối với nhựa phế liệu, chỉ được nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất ra các sản phẩm, hàng hóa (không bao gồm hạt nhựa tái chế thương phẩm), trừ các trường hợp dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư và cơ sở sản xuất đang hoạt động được phép nhập khẩu nhựa phế liệu để sản xuất ra hạt nhựa tái chế thương phẩm đến hết ngày 31/12/2014”.

Hiện nay, Bộ đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ và đang tích cực chuẩn bị nội dung cho Hội nghị toàn quốc về công tác quản lý chất thải rắn, dự kiến tổ chức trong tháng 10/2019 để trao đổi, thống nhất các giải pháp lớn trong công tác quản lý chất thải rắn hiện nay. Dự kiến sau Hội nghị này, Bộ sẽ xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn trên phạm vi cả nước, trong đó sẽ đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về tổ chức phân loại rác thải tại nguồn, đánh giá, công bố các công nghệ xử lý rác thải, giảm thiểu rác thải nhựa .v.v. Bộ cũng đang khẩn trương tham mưu Thủ tướng Chính phủ xem xét, sửa đổi Quyết định 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 về danh mục phế liệu được phép nhập khẩu, theo hướng chỉ cho phép nhập các loại nhựa có giá trị tái chế cao.

5. Cử tri kiến nghị tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các điều ước quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu và các điều ước quốc tế khác để các địa phương nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách (Cử tri thành phố Hồ Chí Minh)

Việt Nam đã tích cực và ngày càng chủ động tham gia vào các Điều ước quốc tế nhiều bên tham gia cũng như các Điều ước quốc tế hai bên về biến đổi khí hậu. Đến nay Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ước quốc tế song phương và  và Điều ước quốc tế song phương.

Là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, trong những năm qua, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nỗ lực thực hiện của các Bộ, ngành, địa phương, trong đó có việc chỉ đạo, thực hiện các Điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam tham gia là thành viên. Bên cạnh việc kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thực hiện các Điều ước quốc tế; bổ sung, hoàn thiện bộ máy, thẩm quyền, nhiệm vụ của các cơ quan chức năng đáp ứng các nhiệm vụ quản lý, chủ trì thực hiện các Điều ước quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu… thì công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng bước đầu đã góp phần tạo chuyển biến tích cực về nhận thức của người dân và cộng đồng về tác động của biến đổi khí hậu và các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bộ Tài nguyên và Môi trường với vai trò là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ chủ trì tổ chức đàm phán, ký kết, thực hiện điều ước quốc tế và tham gia tổ chức quốc tế về biến đổi khí hậu đã triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên với các hoạt động chính như sau:

- Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức về Điều ước quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu như các diễn đàn đối thoại chính sách, hội nghị hội thảo về cơ chế phát triển sạch CDM, JCM; tập huấn sử dụng các phần mềm kiểm kê khí nhà kính; tăng cường năng lực thực hiện công ước khí hậu tại Việt Nam; các hội thảo 3 miền Bắc, Trung, Nam về Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; các hội thảo tham vấn xây dựng, rà soát cập nhật Đóng góp do quốc gia tự quyết định NDC; các hội thảo chuẩn bị cho việc tham dự Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP) và tóm tắt kết quả của COP; tổ chức Ngày quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn hàng năm.

- Xây dựng các ấn phẩm về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn như: Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu; Nghị định thư Kyoto; các Thông báo quốc gia của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (lần thứ nhất, lần thứ hai và lần thứ ba); Nghị định thư Kyoto, Cơ chế phát triển sạch và vận hội mới; Hỏi/đáp về Nghị định thư Kyoto và Cơ chế phát triển sạch; giới thiệu Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung cua Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và tình hình thực hiện Cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam; một số văn bản quy phạm pháp luật thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam; hướng dẫn xây dựng, cấp Thư xác nhận, cấp Thư phê duyệt Dự án theo Cơ chế phát triển sạch trong khuôn khổ Nghị định thư Kyoto; “Thông tin tóm tắt về Cơ chế phát triển sạch và thị trường các-bon quốc tế”; Giới thiệu nghiên cứu Đo đạc, Báo cáo và Thẩm định cho phát triển các-bon thấp tại Châu Á; Kịch bản đường cơ sở quốc gia phát thải khí nhà kính - Kinh nghiệm t các nước đang phát triển trên thế giới; các Báo cáo cập nhật hai năm một lần của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (lần thứ nhất và lần thứ hai); Đề án Quản lý phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính quản lý các hoạt động kinh doanh tín chỉ các-bon ra thị trường thế giới; Thông tin biến đổi khí hậu (2 số/năm); sổ tay hướng dẫn thực hiện cơ chế JCM; Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu; Báo cáo kỹ thuật đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định; Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định nộp UNFCCC; một số ấn phẩm Ô-dôn như: Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn (Bản sửa đổi, bổ sung London 1990, Copenhagen 1992, Vienna 1995, Montreal 1997, Bắc Kinh 1999); Sách 24 năm Việt Nam gia nhập và thực hiện Nghị định thư Montreal; Bản tin ô-dôn (4 số/năm); Chương trình quốc gia của Việt Nam nhằm loại tr dần các chất làm suy giảm tầng ô-dôn.

- Phối hợp với các cơ quan truyền thông xây dựng các tin, bài, các phim phóng sự về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng Ô-dôn.

Thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng thông qua việc lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, phổ biến trong các chương trình, dự án về biến đổi khí hậu, huy động sự tham gia của người dân, sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và khuyến khích, tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào công tác ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn cả nước, ch trọng tại các vùng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu như vùng đồng bằng sông Cửu Long nhằm đảm bảo sinh kế cho người dân và phát triển bền vững.

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông tin cần biết
Lịch tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh



Kế hoạch khảo sát tình hình thực hiện Luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020; những kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng



Kế hoạch giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 01/01/2016 đến 30/6/2020



Kế hoạch giám sát tình hình thực hiện Luật thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020


Hình ảnh hoạt động
Số lượt truy cập
06434687




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn