Đăng nhập

 

Liên kết website
TRẢ LỜI CỦA BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG
Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử thành phố Hồ Chí Minh sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV

1. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri phản ánh hiện nay công tác quản lý tài sản công còn nhiều bất cập, dẫn đến nhiều sai phạm, gây thất thoát, lãng phí tài sản công. Cử tri đề nghị cần tăng cường công tác quản lý tài sản công, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm.

Trả lời tại Công văn số 8256/BTC-QLCS ngày 18/7/2019

Trong những năm vừa qua, công tác quản lý, sử dụng tài sản công đã được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị quan tâm. Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (thay thế Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trước đây) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018. Sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành 15 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 03 Quyết định, Bộ Tài chính ban hành 09 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật. Đây là cơ sở pháp lý để khắc phục những tồn tại trong quản lý, sử dụng tài sản công thời gian vừa qua, hướng tới công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí trong sử dụng, xử lý tài sản công.

Sau 01 năm thực hiện, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức Hội nghị trực tuyến để đánh giá, sơ kết tình hình thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Qua đánh giá, các Bộ, ngành, địa phương đã thống nhất nhận định: Công tác quản lý tài sản công đã có những chuyển biến tích cực và từng bước đi vào nề nếp, các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm, chỉ đạo, tập huấn, phổ biến chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; xây dựng, ban hành các quy định về phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài sản công, ban hành tiêu chuẩn, định mức tài sản chuyên dùng, chỉ đạo xây dựng Quy chế quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, xác định giá trị tài sản của đơn vị, tổ chức thực hiện mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung, tăng cường đấu giá, niêm yết giá công khai khi bán, chuyển nhượng, thanh lý tài sản công...; các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán để phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công.

Tuy nhiên, công tác quản lý, sử dụng tài sản công thời gian vừa qua còn có những hạn chế, thiếu sót, một số trường hợp vẫn còn để xảy ra thất thoát, sử dụng lãng phí đất đai, tài sản công như Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh đã nêu, cá biệt có trường hợp phải xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do tài sản công có phạm vi rất rộng, được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau (ví dụ như Luật Đất đai, Luật Đấu giá, Luật Đấu thầu.v.v...) và do nhiều cơ quan cùng quản lý; công tác quản lý tài sản công của một số Bộ, ngành, địa phương chưa được quan tâm đúng mức, có nơi, có lúc còn buông lỏng công tác quản lý.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, Bộ Tài chính nhất trí với kiến nghị của cử tri thành phố Hồ Chí Minh về việc tăng cường hơn nữa công tác quản lý tài sản công, tránh thất thoát, lãng phí. Các nhiệm vụ, giải pháp Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai trong thời gian tới như sau:

(1) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; trong đó: Báo cáo Thủ tướng Chính phủ sớm ký ban hành Nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT; xây dựng trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định về việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng, khai thác nhà, đất giao cho Công ty quản lý, kinh doanh nhà địa phương quản lý.

(2) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật để chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương khẩn trương hoàn thành việc ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công; phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng (diện tích công trình sự nghiệp thuộc cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô chuyên dùng, máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý); phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập sở hữu toàn dân về tài sản và phân cấp thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; ban hành quy định về tài sản có giá trị lớn để phân định thẩm quyền phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức thuộc phạm vi quản lý vào mục đích kinh doanh, cho thuê; thực hiện nghiêm quy định về đấu thầu, đấu giá trong đầu tư, mua sắm, thuê, khai thác và xử lý tài sản công.

(3)  Phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan thực hiện rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, cơ quan trung ương khác chủ trì có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công, đặc biệt là pháp luật về đất đai, định giá, xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, lựa chọn đối tác liên doanh, liên kết tài sản công để hỗ trợ cho việc quản lý, sử dụng tài sản công.

(4) Nâng cấp cơ sở dữ liệu Quốc gia về tài sản công để từng bước thực hiện mục tiêu tất cả các tài sản công quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đều được cập nhật, theo dõi, quản lý tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công; xây dựng Hệ thống giao dịch về tài sản công để thực hiện các giao dịch về tài sản (như: bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản,...) trên hệ thống trực tuyến để đảm bảo tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong quản lý, khai thác, xử lý tài sản công.

(5) Tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

 (6) Phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản công và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công.

Bên cạnh các biện pháp nêu trên, công tác quản lý, sử dụng tài sản công có được hiệu quả hay không phụ thuộc vào việc quản lý, sử dụng tài sản công của các Bộ, ngành, địa phương, theo đó các đơn vị cần tuân thủ quy định của pháp luật, đồng thời nêu cao vai trò của người đứng đầu trong việc quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước.

2. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Hiện nay, theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ có quy định các điều kiện để hoàn thuế giá trị gia tăng, trong đó có 02 nội dung như sau:

- Công ty phải có dự án đang trong giai đoạn đầu tư

- Công ty phải được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Với quy định này thì rất nhiều doanh nghiệp bị vướng về “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”. Theo quy định hiện nay, một số ngành nghề kinh doanh phải đi vào hoạt động kinh doanh thì cơ quan chức năng mới kiểm tra và cấp “Giấy chứng nhận kinh doanh có điều kiện”. Tuy nhiên, khi được cấp “Giấy chứng nhận kinh doanh có điều kiện” thì dự án thuộc diện đã đi vào khai thác kinh doanh. Theo quy định của việc hoàn thuế giá trị gia tăng thì dự án đã đi vào khai thác kinh doanh sẽ không được hoàn thuế. Điều này trái với quy định hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng đầu vào trên 300 triệu đồng thì được hoàn. Do đó, đề nghị cần bãi bỏ quy định phải có “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” thì mới được hoàn thuế hoặc nếu áp dụng, trong giai đoạn đầu tư doanh nghiệp được hoàn thuế giá trị gia tăng (nếu thuế đầu vào trên 300 triệu đồng và doanh nghiệp cam kết bổ sung “Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện” trong thời gian nhất định. Điều này sẽ tránh được trường hợp doanh nghiệp được hoàn thuế mà không được hoàn do quy định pháp luật không thống nhất dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp và không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư.

Trả lời tại Công văn số 10387/BTC-TCT ngày 04/9/2019

Tại khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng quy định:

1. ...Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.

Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

a) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;”

Tại Khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định:

“6. Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 10. Hoàn thuế giá trị gia tăng

2. Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế đối với dự án đầu tư như sau:

a) Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ du khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này. Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.

c) Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

- Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính quy định về hoàn thuế GTGT:

2. Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm c Khoản 3 Điều này. Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.

3. Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư

...

c) Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

...

c.2) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư.”

Căn cứ các quy định trên:

Hai quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư trong Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính xuất phát từ quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 và Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.

Các quy định này là cần thiết nhằm đảm bảo các dự án phải tuân thủ quy định pháp luật về đầu tư và pháp luật về doanh nghiệp.

3. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị quá trình thực hiện sắp xếp, xử lý nhà, đất của các cơ quan trung ương trên địa bàn Thành phố và cổ phần hóa các doanh nghiệp trực thuộc cơ quan trung ương cần thẩm tra, đánh giá đúng năng lực, nhu cầu và phù hợp với chức năng ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp, quy hoạch của Thành phố.

Trả lời tại Công văn số 8268/BTC-QLCS ngày 18/7/2019

1. Đối với quá trình thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất

Theo quy định tại Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công thì việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý được thực hiện theo quy trình; cụ thể như sau:

(i) Doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng nhà, đất lập báo cáo kê khai và đề xuất phương án sắp xếp lại, xử lý đối với tất cả các cơ sở nhà, đất đang quản lý, sử dụng, gửi cơ quan quản lý cấp trên (nếu có) để tổng hợp, gửi Bộ, cơ quan trung ương. Khi đề xuất phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của doanh nghiệp phải có ý kiến thống nhất của cơ quan, người có thẩm quyền của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

(ii) Bộ, cơ quan trung ương chủ trì tổ chức kiểm tra hiện trạng quản lý, sử dụng nhà, đất;

(iii) Bộ, cơ quan trung ương xem xét, lập phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất thuộc phạm vi quản lý, gửi lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà, đất;

(iv) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà, đất có ý kiến bằng văn bản đối với phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc trung ương quản lý gửi Bộ, cơ quan trung ương;

(v) Bộ, cơ quan trung ương hoàn thiện phương án gửi Bộ Tài chính;

(iv) Bộ Tài chính phê duyệt theo thẩm quyền hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 8 Nghị định số 167/2017/NĐ-CP thì nhà, đất của doanh nghiệp được phê duyệt phương án giữ lại tiếp tục sử dụng trong trường hợp nhà, đất sử dụng theo đúng mục đích sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê. Ngoài ra, theo quy trình thực hiện sắp xếp lại, xử lý nhà, đất, Bộ Tài chính hoặc các Bộ, cơ quan trung ương phải gửi xin ý kiến của địa phương (nơi có cơ sở nhà, đất) về phương án sắp xếp lại, xử lý. Địa phương căn cứ vào quy hoạch của địa phương để tham gia ý kiến cụ thể đối với từng cơ sở nhà, đất.

Như vậy, phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất trước khi được phê duyệt phương án đã được thẩm tra, đánh giá phù hợp với nhu cầu giữ lại tiếp tục sử dụng của doanh nghiệp, phù hợp với mục đích sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê và quy hoạch sử dụng đất của địa phương.

2. Đối với quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp

Ngày 16/11/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước và Công ty TNHH Một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ và Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ, có hiệu thi hành từ ngày 01/01/2018). Trong đó, việc xử lý đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá đã được quy định theo hướng:

- Nghị định tiếp tục hướng dẫn việc xác định giá đất cụ thể (cả thuê và giao) theo quy định của Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, căn cứ giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi doanh nghiệp có diện tích đất được giao và thuê) công bố, doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm tính vào giá trị doanh nghiệp và nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về đất đai. Đồng thời, đã bổ sung quy định về xử lý đất đai đối với các doanh nghiệp quản lý nhiều đất đai ở những vị trí có lợi thế thương mại cao theo hướng yêu cầu doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm xây dựng phương án sử dụng toàn bộ diện tích đất đang quản lý, sử dụng trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

- Phương án sử dụng đất của doanh nghiệp phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với quy định về sắp xếp lại, xử lý nhà, đất tại Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ (nay là Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ); phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng tại địa phương trước khi tổ chức thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp sẽ đảm bảo ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp lợi dụng tiếp tục nắm giữ, “ôm” lại toàn bộ diện tích đất đang quản lý mặc dù chưa phù hợp ngành nghề kinh doanh, mục đích sử dụng đất cũng như quy hoạch của địa phương.

Khi thực hiện phê duyệt Phương án sử dụng đất của doanh nghiệp cổ phần hóa, Nhà nước đã phải rà soát và quyết định thu hồi những diện tích đất doanh nghiệp sử dụng chưa phù hợp và không đúng quy hoạch; những diện tích đất mà doanh nghiệp cổ phần hóa được tiếp tục sử dụng đã được tính toán, hướng dẫn đảm bảo phù hợp với pháp luật đất đai hiện hành, nếu là đất giao (chỉ áp dụng khi doanh nghiệp sử dụng vào mục đích xây dựng nhà để bán và xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê) thì đều phải xác định lại giá đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa là giá đất cụ thể sát với giá thị trường, nếu là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm cũng phải xác định lại là giá đất cụ thể sát với giá thị trường và nộp tiền thuê đất như các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

- Để tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm, Nghị định quy định rõ công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện quản lý và sử dụng đất của doanh nghiệp theo đúng mục đích, đúng phương án sử dụng của toàn bộ diện tích đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

4. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Cục Quản lý công sản khẩn trương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Tập đoàn, Tổng công ty, Công ty nhà nước thuộc trung ương phối hợp với các Sở, ngành của Thành phố rà soát kiểm tra việc thực hiện phương án xử lý, sắp xếp nhà đất công đã được Bộ Tài chính phê duyệt và đề xuất phương án xử lý phù hợp với quy định hiện hành.

Trả lời tại Công văn số 11003/BTC-QLCS ngày 19/9/2019

Ngày 30/10/2018, Bộ Tài chính đã có Công văn số 13342/BTC-QLCS gửi các Bộ, cơ quan trung ương đề nghị kiểm tra, rà soát và báo cáo tình hình thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất của các Bộ, cơ quan trung ương trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

 Bộ Tài chính (Cục Quản lý công sản) đang tổng hợp, lập kế hoạch kế hoạch kiểm tra việc thực hiện phương án sắp xếp lại, xử lý nhà, đất do trung ương quản lý trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Tài chính phê duyệt; trên cơ sở đó, phối hợp với Sở Tài chính thành phố Hồ Chí Minh thực hiện kiểm tra hiện trạng và xử lý phù hợp quy định tại Nghị định số 167/2017/NĐ-CP.

5. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Xem cơ chế chính sách điều tiết nguồn thu từ các chủ thể được hưởng lợi từ các quỹ đất đai bên đường (đặc biệt là các doanh nghiệp, chủ đầu tư dự án phát triển đô thị) sau khi Nhà nước đầu tư đường giao thông hoặc các dự án không đủ quỹ đất xây dựng hạ tầng xã hội (trường học, y tế, công viên cây xanh...) theo quy hoạch.           

Trả lời tại Công văn số 11032/BTC-QLCS ngày 20/9/2019

- Tại Điều 118 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 đã quy định về việc khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng như sau: “Khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng là việc Nhà nước áp dụng cơ chế thu hồi đất vùng phụ cận của đất phục vụ dự án đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật về đất đai nhằm tạo quỹ đất để tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng”.

- Căn cứ quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 và thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài chính đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành 05 Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi, hạ tầng giao thông (hàng hải, đường thủy nội địa, đường sắt quốc gia, đường bộ) quy định tại các Nghị định (số 129/2017/NĐ-CP ngày 16/11/2017, số 43/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018, số 45/2018/NĐ-CP ngày 13/3/2018, số 46/2018/NĐ-CP ngày 14/3/2018, số 33/2019/NĐ-CP ngày 23/4/2019 của Chính phủ); trong đó có quy định việc khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi, giao thông (hàng hải, đường thủy nội địa, đường sắt quốc gia, đường bộ).

- Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục nghiên cứu để trình cấp có thẩm quyền ban hành Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác đối với tài sản kết cấu hạ tầng còn lại theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (trong đó có nội dung quy định về khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển tài sản kết cấu hạ tầng).   

Như vậy, quy định về khai thác quỹ đất để tạo vốn phát triển tài sản kết cấu hạ tầng (trong đó có hạ tầng giao thông) đã điều tiết nguồn thu từ các quỹ đất bên đường sau khi Nhà nước đầu tư đường giao thông, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đối với các dự án không đủ quỹ đất xây dựng hạ tầng xã hội theo quy hoạch; việc xử lý quỹ đất này thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đất đai.

6. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri phản ánh hiện nay công tác quản lý tài sản công còn nhiều bất cập, dẫn đến nhiều sai phạm, gây thất thoát, lãng phí tài sản công. Cử tri đề nghị cần tăng cường công tác quản lý tài sản công, xử lý nghiêm các hành vi sai phạm.

Trả lời tại Công văn số 8256/BTC-QLCS ngày 18/7/2019

Trong những năm vừa qua, công tác quản lý, sử dụng tài sản công đã được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị quan tâm. Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (thay thế Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trước đây) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018. Sau khi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành 15 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ban hành 03 Quyết định, Bộ Tài chính ban hành 09 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật. Đây là cơ sở pháp lý để khắc phục những tồn tại trong quản lý, sử dụng tài sản công thời gian vừa qua, hướng tới công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí trong sử dụng, xử lý tài sản công.

Sau 01 năm thực hiện, Bộ Tài chính đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức Hội nghị trực tuyến để đánh giá, sơ kết tình hình thi hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Qua đánh giá, các Bộ, ngành, địa phương đã thống nhất nhận định: Công tác quản lý tài sản công đã có những chuyển biến tích cực và từng bước đi vào nề nếp, các Bộ, ngành, địa phương đã quan tâm, chỉ đạo, tập huấn, phổ biến chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; xây dựng, ban hành các quy định về phân cấp thẩm quyền, trách nhiệm trong quản lý, sử dụng tài sản công, ban hành tiêu chuẩn, định mức tài sản chuyên dùng, chỉ đạo xây dựng Quy chế quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, xác định giá trị tài sản của đơn vị, tổ chức thực hiện mua sắm tài sản công theo phương thức tập trung, tăng cường đấu giá, niêm yết giá công khai khi bán, chuyển nhượng, thanh lý tài sản công...; các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán để phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công.

Tuy nhiên, công tác quản lý, sử dụng tài sản công thời gian vừa qua còn có những hạn chế, thiếu sót, một số trường hợp vẫn còn để xảy ra thất thoát, sử dụng lãng phí đất đai, tài sản công như Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh đã nêu, cá biệt có trường hợp phải xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nguyên nhân của tình trạng nêu trên là do tài sản công có phạm vi rất rộng, được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau (ví dụ như Luật Đất đai, Luật Đấu giá, Luật Đấu thầu.v.v...) và do nhiều cơ quan cùng quản lý; công tác quản lý tài sản công của một số Bộ, ngành, địa phương chưa được quan tâm đúng mức, có nơi, có lúc còn buông lỏng công tác quản lý.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, Bộ Tài chính nhất trí với kiến nghị của cử tri thành phố Hồ Chí Minh về việc tăng cường hơn nữa công tác quản lý tài sản công, tránh thất thoát, lãng phí. Các nhiệm vụ, giải pháp Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai trong thời gian tới như sau:

(1) Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công; trong đó: Báo cáo Thủ tướng Chính phủ sớm ký ban hành Nghị định quy định việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT; xây dựng trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định về việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công; chế độ quản lý, sử dụng, khai thác nhà, đất giao cho Công ty quản lý, kinh doanh nhà địa phương quản lý.

(2) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật để chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đôn đốc, hướng dẫn các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương khẩn trương hoàn thành việc ban hành quy định về phân cấp quản lý tài sản công; phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công chuyên dùng (diện tích công trình sự nghiệp thuộc cơ sở hoạt động sự nghiệp, xe ô tô chuyên dùng, máy móc, thiết bị chuyên dùng thuộc phạm vi quản lý); phân cấp thẩm quyền quyết định xác lập sở hữu toàn dân về tài sản và phân cấp thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; ban hành quy định về tài sản có giá trị lớn để phân định thẩm quyền phê duyệt Đề án sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức thuộc phạm vi quản lý vào mục đích kinh doanh, cho thuê; thực hiện nghiêm quy định về đấu thầu, đấu giá trong đầu tư, mua sắm, thuê, khai thác và xử lý tài sản công.

(3)  Phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan thực hiện rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật do các bộ, cơ quan trung ương khác chủ trì có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản công, đặc biệt là pháp luật về đất đai, định giá, xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, lựa chọn đối tác liên doanh, liên kết tài sản công để hỗ trợ cho việc quản lý, sử dụng tài sản công.

(4) Nâng cấp cơ sở dữ liệu Quốc gia về tài sản công để từng bước thực hiện mục tiêu tất cả các tài sản công quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đều được cập nhật, theo dõi, quản lý tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công; xây dựng Hệ thống giao dịch về tài sản công để thực hiện các giao dịch về tài sản (như: bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản,...) trên hệ thống trực tuyến để đảm bảo tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong quản lý, khai thác, xử lý tài sản công.

(5) Tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

 (6) Phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra việc quản lý, sử dụng tài sản công và xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công.

Bên cạnh các biện pháp nêu trên, công tác quản lý, sử dụng tài sản công có được hiệu quả hay không phụ thuộc vào việc quản lý, sử dụng tài sản công của các Bộ, ngành, địa phương, theo đó các đơn vị cần tuân thủ quy định của pháp luật, đồng thời nêu cao vai trò của người đứng đầu trong việc quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước.

7. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri phản ánh thời gian qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/7/2017 quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết có một số điểm bất hợp lý, gây bất lợi cho doanh nghiệp, cụ thể: Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 quy định “Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 20% tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, cộng với chi phí lãi vay, chi phí khấu hao của doanh nghiệp”, nghĩa là chi phí vay được trừ tối đa 20% EBITDA (thu nhập trước thuế, trả lãi và khấu hao) của doanh nghiệp. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước mà đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - con. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì chi phí lãi vay của doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh, có đầy đủ hóa đơn chứng từ theo quy định và không thuộc quy định chi phí không được trừ thì toàn bộ chi phí lãi vay được tính vào chi phí được trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó quy định khống chế chi phí lãi vay của Nghị định 20 không phù hợp với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.

Do đó, kiến nghị không áp dụng việc khống chế lãi vay theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 đối với doanh nghiệp trong nước có giao dịch liên kết với đơn vị cùng mức thuế suất, chỉ nên áp dụng cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có giao dịch liên kết qua biên giới. Quy định chi phí lãi vay với các giao dịch liên kết của công ty không cùng mức thuế suất chỉ áp dụng đối với khoản vay liên quan của các công ty với nhau, không tính chung tất cả các khoản vay của công ty, và lãi suất vay các công ty phải theo lãi suất vay bình quân của công ty cho vay (không bao gồm khoản cho vay liên kết). Các công ty khác mức thuế suất có giao dịch liên kết không phải giao dịch cho vay thì không áp dụng khống chế chi phí lãi vay theo quy định của Nghị định 20. Không áp dụng khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 cho năm tài chính 2017, 2018 cho đến khi có Nghị định mới thay thế.

Trả lời tại Công văn số 8505/BTC-TCT ngày 24/7/2019

Xuất phát từ đặc thù của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của Việt Nam cho các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo vùng, miền, lĩnh vực,… từ đó dẫn đến rủi ro về chuyển giá, qua công tác thanh tra - kiểm tra thuế, Bộ Tài chính đã phát hiện một số trường hợp doanh nghiệp có giao dịch liên kết lợi dụng các công cụ chuyển giá biến hóa phức tạp nhằm chuyển dịch lợi nhuận, tối thiểu hóa số thuế TNDN phải nộp dẫn đến hệ quả làm xói mòn nguồn thu ngân sách nhà nước, trong đó có việc sử dụng công cụ chi phí lãi vay phát sinh từ các khoản vay giáp lưng do các đơn vị thuộc tập đoàn sắp xếp thông qua một bên độc lập.

Trước tình hình trên, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ việc cần thiết phải ban hành Nghị định 20/2017/NĐ-CP (Nghị định 20) với mục tiêu xây dựng một công cụ pháp lý đủ mạnh để quản lý các doanh nghiệp có giao dịch liên kết và ngăn ngừa, xử lý các doanh nghiệp có hoạt động, hành vi sắp đặt các giao dịch để chuyển lợi nhuận. Trong đó, quy định giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 được xây dựng dựa trên việc tiếp thu kết quả nghiên cứu của OECD/G20 tại Báo cáo Hành động BEPS số 4 về khuyến nghị các giải pháp ngăn ngừa chuyển lợi nhuận thông qua công cụ lãi vay hiện đang được các nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng, kết hợp với nguyên tắc ấn định thuế được quy định tại Luật Quản lý Thuế.

Trước khi trình Chính phủ ban hành Nghị định 20, Bộ Tài chính đã lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, đăng tải trên cổng thông tin điện tử để lấy ý kiến rộng rãi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và đã được đại đa số thành viên Chính phủ biểu quyết thông qua. Việc Bộ Tài chính nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định 20 là chặt chẽ, có cơ sở pháp lý và tuân thủ quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nội dung của Nghị định phù hợp với thông lệ quốc tế đối với việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết, các tập đoàn đa quốc gia.

Qua hai năm triển khai thực hiện Nghị định 20 đã cho thấy các kết quả tích cực. Bên cạnh đó trong quá trình thực hiện, Bộ Tài chính đã nhận được một số ý kiến từ các hiệp hội, doanh nghiệp về quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 với nội dung tương tự như kiến nghị của Quý cử tri. Bộ Tài chính xin tiếp thu để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định 20 cùng với các văn bản hướng dẫn Luật Quản lý Thuế mới để đảm bảo là công cụ pháp lý chống chuyển giá hiệu quả, phù hợp với bối cảnh tình hình nền kinh tế Việt Nam và thông lệ quốc tế, trên nguyên tắc thống nhất với hệ thống chính sách pháp luật thuế và tạo ra môi trường pháp lý công bằng, bình đẳng cho các doanh nghiệp.

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông tin cần biết
Lịch tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh



Kế hoạch khảo sát tình hình thực hiện Luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020; những kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng



Kế hoạch giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 01/01/2016 đến 30/6/2020



Kế hoạch giám sát tình hình thực hiện Luật thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020


Hình ảnh hoạt động
Số lượt truy cập
06434737




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn