Đăng nhập

 

Liên kết website
TRẢ LỜI CỦA BỘ, NGÀNH TRUNG ƯƠNG
Bộ Giao thông vận tải trả lời kiến nghị cử tri thành phố Hồ Chí Minh sau kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV

1. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: “Cử tri đề nghị Bộ GTVT có giải pháp kiên quyết, bắt buộc doanh nghiệp phải chấp hành lắp đặt hệ thống thu phí không dừng tại tất cả các trạm thu phí BOT, đảm bảo công khai, minh bạch để nhân dân giám sát”.

Trả lời tại Công văn số 8530/BGTVT-ĐTCT ngày 10/9/2019

Trước tiên, Bộ GTVT trân trọng cảm ơn Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, góp ý nhằm giúp công tác quản lý các dự án BOT ngày càng tốt hơn, đảm bảo tính công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu của xã hội và người dân. Về nội dung kiến nghị của cử tri nêu trên, Bộ GTVT xin trả lời như sau:

Để đáp ứng yêu cầu của xã hội về việc hiện đại hóa công nghệ thu phí, tăng cường tính công khai minh bạch và thuận tiện cho người sử dụng, Bộ GTVT đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương lập dự án đầu tư để triển khai dự án thu phí tự động không dừng tại tất cả các trạm thu phí đường bộ do Bộ GTVT quản lý.

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Nghị quyết số 437/NQ-UBTVQH14 ngày 21/10/2017 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg ngày 27/3/2017, Bộ GTVT và các Nhà đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ có thu phí đều xác định việc lắp đặt, vận hành hệ thống thu phí tự động không dừng tại các trạm thu phí đường bộ là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện. Trong thời gian qua Bộ GTVT đã nỗ lực chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai thực hiện chủ trương trên, đồng thời coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của Bộ GTVT. Đến thời điểm này, cơ bản các trạm thu phí trên Quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên đã lắp đặt và vận hành hệ thống thu phí tự động không dừng, các trạm thu phí BOT còn lại phấn đấu hoàn thành trong năm 2019.

Ngoài ra, để sớm hoàn thành việc lắp đặt, vận hành hệ thống thu phí tự động không dừng, ngày 15/7/2019, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện số 849/CĐ-TTg chỉ đạo Bộ GTVT, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương “khẩn trương thực hiện các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ triển khai hệ thống thu phí điện tử tự động không dừng theo đúng quy định tại Nghị quyết số 437/NQ-UBTVQH14 , Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg  và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 27/02/2018 bảo đảm chậm nhất trước ngày 31/12/2019 chuyển sang thu phí tự động đối với tất cả các trạm thu phí trên toàn quốc; đồng thời yêu cầu nhà đầu tư dừng thu phí đối với các dự án có trạm thu phí không chuyển sang thu tự động không dừng theo đúng quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 07/2017/QĐ-TTg”. Hiện nay, Bộ GTVT đang nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện nêu trên.

2. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: “Cử tri đề nghị cần quan tâm hơn nữa trong việc phát triển giao thông đường thủy ở đồng bằng sông Cửu Long góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này”. 

Trả lời tại Công văn số 9305 /BGTVT-KHĐT ngày 02/10/2019

Trước tiên, Bộ GTVT trân trọng cảm ơn cử tri và Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, góp ý nhằm giúp công tác quản lý của Bộ GTVT ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và người dân. Về nội dung kiến nghị nêu trên, Bộ GTVT xin được trả lời như sau:

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, thời gian qua, Bộ GTVT đã chú trọng công tác đầu tư kết cấu hạ tầng đường thủy. Ngoài kinh phí sự nghiệp kinh tế được bố trí tăng hàng năm để bảo trì, duy tu đảm bảo vận tải, an toàn giao thông đường thủy nội địa, Bộ GTVT đã hoàn thành các dự án: Nâng cấp hai tuyến đường thủy phía Nam, Phát triển CSHT giao thông đồng bằng sông Cửu Long (dự án WB5), Nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo - Giai đoạn 1....

Theo đó, khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã có khoảng 1.082 km đường thủy chính được nâng cấp đạt cấp II - III, đã từng bước cải thiện và nâng cao năng lực vận tải, góp phần giảm tải cho hệ thống đường bộ, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng và liên vùng.

Để tiếp tục phát triển năng lực vận tải đường thủy nội địa, trong thời gian tới, Chính phủ chỉ đạo Bộ GTVT và các bộ, ngành liên quan khẩn trương triển khai những nhiệm vụ sau:

- Hoàn thành Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 995/QĐ-TTg ngày 09/8/2018.

- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 47/2015/QĐ-TTg ngày 05/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển giao thông vận tải đường thủy nội địa; công tác bảo trì, duy tu, bảo đảm an toàn giao thông các tuyến đường thủy nội địa quốc gia theo kế hoạch bố trí vốn hàng năm.

- Triển khai một số dự án đầu tư quan trọng trong lĩnh vực đường thủy nội địa như: dự án Phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam; dự án Nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo - Giai đoạn 2...

- Tiếp tục kêu gọi, huy động các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư nâng cấp nhằm từng bước đưa vào cấp kỹ thuật các tuyến vận tải thủy chính; cải tạo một số cầu có tĩnh không thấp trên các tuyến, hành lang vận tải thủy chính cầu Măng Thít… để giải tỏa các điểm nghẽn và nâng cao năng lực vận tải thủy.

Các nội dung nêu trên cũng đã được Bộ GTVT trả lời Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh tại văn bản số 8262/BGTVT-KHĐT ngày 30/8/2019 (xin được gửi kèm theo).

3. Cử tri Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: “Cử tri tiếp tục đề nghị kiểm tra chặt chẽ việc đào tạo cấp bằng lái xe”.

Trả lời tại Công văn số 8453/BGTVT-TCCB ngày 06/9/2019

Bộ GTVT trân trọng cảm ơn Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, góp ý nhằm giúp công tác quản lý nhà nước của Bộ ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và nhân dân. Về nội dung kiến nghị nêu trên, Bộ GTVT xin trả lời như sau:

Trong thời gian qua, Bộ GTVT đã triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch lái xe, cấp giấy phép lái xe. Trong đó có tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất công tác đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe tại các cơ sở đào tạo, trung tâm sát hạch lái xe, công tác quản lý đào tạo, sát hạch tại các Sở Giao thông vận tải (cụ thể: trong năm 2017 thanh tra, kiểm tra 20 Sở GTVT, 102 cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch; năm 2018: thanh tra, kiểm tra 13 Sở GTVT, 61 cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch; năm 2019 thanh tra, kiểm tra 30 Sở GTVT, 128 cơ sở đào tạo và trung tâm sát hạch); đã chỉ đạo các trung tâm sát hạch lái xe lắp camera giám sát phòng sát hạch lý thuyết và công khai hình ảnh ra màn hình để người dân giám sát, chụp ảnh ngẫu nhiên thí sinh trong quá trình sát hạch thực hành lái xe trong hình và trên đường, quá trình sát hạch lý thuyết được thực hiện trắc nghiệm trên máy tính, sát hạch thực hành lái xe trong hình và trên đường được thực hiện bằng thiết bị chấm điểm tự động, mỗi thí sinh sau khi sát hạch xong máy tính tự in ra kết quả sát hạch để thí sinh ký xác nhận kết quả; kết quả sát hạch ở các nội dung sát hạch được công khai trên màn hình để người dân giám sát.

Để giám sát chặt chẽ và tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe trong thời gian tới, Bộ GTVT đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ, cụ thể:

1. Hoàn thiện Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 12/2017/TT-BGTVT ngày 15/4/2017 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ. Theo đó, Bộ GTVT đã đưa ra một số quy định cụ thể gồm:

1.1. Đối với công tác đào tạo                    

Trong năm 2020, yêu cầu các cơ sở đào tạo lái xe ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đào tạo để nhận dạng và đảm bảo theo dõi thời gian học lý thuyết môn học pháp luật giao thông đường bộ đối với học viên học lái xe ô tô; trong năm 2021, yêu cầu các cơ sở đào tạo lái xe trang bị và duy trì ca bin học lái xe ô tô, thiết bị giám sát thời gian và quãng đường học lái xe trên đường và bổ sung nội dung học lái xe ô tô bằng phần mềm mô phỏng các tình huống giao thông.

1.2. Đối với công tác sát hạch

- Trong tháng 7 năm 2019, đã yêu cầu các Trung tâm sát hạch lái xe tại 05 tỉnh, thành phố (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An và Đà Nẵng) lắp đặt camera giám sát phòng sát hạch lý thuyết, sân sát hạch lái xe trong hình, đảm bảo kết nối trực tuyến, truyền dữ liệu hình ảnh (dạng video) về Tổng cục Đường bộ Việt Nam và chia sẻ dữ liệu với các Sở Giao thông vận tải, để tăng cường giám sát công tác sát hạch lái xe và thực hiện trên toàn quốc trước ngày 31/12/2019.

- Trong năm 2019, sửa đổi, ban hành Bộ 600 câu hỏi thay bộ 450 câu hỏi dùng cho sát hạch cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ.

- Trong năm 2021, bổ sung nội dung sát hạch “Xử lý các tình huống giao thông trên phần mềm mô phỏng”.

2. Xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt trình Chính phủ xem xét, ban hành. Theo đó, Bộ GTVT đã đưa ra một số quy định gồm:        

Quy định chế tài xử phạt (mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả) tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, bảo đảm tính răn đe và khả thi khi thực hiện. Đặc biệt, tăng nặng mức xử phạt đối với các nhóm hành vi vi phạm có nguy cơ cao gây mất an toàn giao thông (như: vi phạm quy định về nồng độ cồn, chất ma túy, đi không đúng phần đường, làn đường, chạy quá tốc độ, đi ngược chiều, lùi xe trên đường cao tốc…); đồng thời có xét đến tính khả thi khi thực hiện (như: thẩm quyền xử phạt của các chức danh trực tiếp thực hiện công tác thanh tra, tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm; tính chất quản lý, khai thác của lĩnh vực đường bộ, đường sắt; thu nhập bình quân và khả năng chi trả của người dân khi bị xử phạt).

4. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri đề nghị cần đảm bảo chặt chẽ trong việc mời thầu xây dựng các công trình giao thông trọng điểm quốc gia nhất là dự án tuyến đường cao tốc Bắc - Nam, không để xảy ra tình trạng nhà thầu không đủ năng lực trúng thầu, hạn chế tình trạng trễ tiến độ thi công và đội kinh phí”.

Trả lời tại Công văn số 7891/BGTVT-CQLXD ngày 22/8/2019

Trước tiên, Bộ GTVT trân trọng cảm ơn cử tri và Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, góp ý về việc lựa chọn nhà thầu xây dựng các công trình giao thông nhằm giúp công tác quản lý nhà nước của Bộ ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và người dân. Về kiến nghị của cử tri nêu trên, Bộ GTVT xin trả lời như sau:

 Bộ GTVT luôn xác định năng lực, kinh nghiệm, uy tín của các nhà thầu, các tư vấn,... có ý nghĩa rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công, chất lượng các công trình giao thông. Vì vậy, thời gian qua, Bộ GTVT đã có nhiều văn bản chỉ đạo, yêu cầu các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, các cơ quan, đơn vị liên quan nghiêm túc thực hiện các quy định pháp luật về đấu thầu, đầu tư xây dựng…, để lựa chọn được các nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm và có uy tín cao thi công các công trình giao thông.

Trong thời gian tới, Bộ GTVT sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát, khắc phục những tồn tại, hạn chế để đảm bảo chặt chẽ hơn nữa trong công tác đấu thầu, nhằm nâng cao tính cạnh tranh, công khai, minh bạch,… để có thể lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm xây dựng các công trình giao thông nói chung và các công trình trọng điểm quốc gia nói riêng, trong đó có Dự án xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông.

Đối với các Dự án thành phần thuộc Dự án xây dựng tuyến đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông được đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP): Để đảm bảo quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng, hạn chế tối đa việc điều chỉnh thiết kế, phát sinh khối lượng làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây dựng, Bộ GTVT đã phối hợp các bộ, ngành liên quan tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán trước khi lựa chọn Nhà đầu tư. Đồng thời, xây dựng hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu với quy định chặt chẽ về năng lực, kinh nghiệm kỹ thuật, năng lực tài chính và đưa vào nội dung của hợp đồng đầy đủ chế tài xử lý khi Nhà đầu tư có vi phạm về tiến độ, chất lượng công trình.

Theo quy định pháp luật, việc lựa chọn nhà thầu đối với dự án đầu tư theo hình thức PPP thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Nhà đầu tư, Doanh nghiệp dự án. Tuy nhiên, Bộ GTVT sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan quản lý, giám sát chặt chẽ việc lựa chọn nhà thầu của Nhà đầu tư đảm bảo nhà thầu tham gia thực hiện dự án có đủ năng lực theo quy định pháp luật, đồng thời có chế tài để yêu cầu Nhà đầu tư bổ sung, thay thế nhà thầu yếu kém về năng lực hoặc thi công chậm tiến độ...

Ngoài ra, với trách nhiệm của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Nhà nước và là cơ quan trực tiếp được giao quản lý các công trình giao thông trọng điểm quốc gia, Bộ GTVT sẽ chủ động thường xuyên giám sát, kiểm tra để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.

5. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: “Cử tri phản ánh trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đường sắt gây tâm lý lo lắng cho người dân. Cử tri đề nghị cần quan tâm đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông đường sắt phù hợp với tình hình thực tế, có biện pháp đảm bảo an toàn giao thông đường sắt để hoạt động GTVT đường sắt luôn được thông suốt, an toàn và hiệu quả (Câu số 56)”

Trả lời tại Công văn số 7794/BGTVT-KHĐT ngày 20/8/2019

Như đề xuất của cử tri, để từng bước cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng đường sắt hiện có, thời gian vừa qua, Bộ GTVT đã đề nghị Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội bố trí 7.000 tỷ đồng trong phạm vi 15.000 tỷ đồng (từ nguồn vốn dự phòng ngân sách trung ương giai đoạn 2016 - 2020) để thực hiện các dự án đường sắt quan trọng, cấp bách trên tuyến đường sắt Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay, Bộ GTVT đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị đầu tư các dự án.

Đồng thời, hiện nay Bộ GTVT đang tiếp tục chỉ đạo Cục Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty ĐSVN rà soát các điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt để phối hợp với các địa phương tăng cường cảnh giới, xây dựng gồ giảm tốc, lắp đặt thêm biển báo, thực hiện kết nối tín hiệu đường bộ, đường sắt tại các đường ngang, hạn chế hoặc thu hẹp các lối di dân sinh… theo quy chế phối hợp đã được ký kết giữa Bộ GTVT và UBND các tỉnh/thành phố có đường sắt đi qua nhằm đảm bảo an toàn giao thông tại các điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt.

Với các biện pháp nên trên, Bộ GTVT hy vọng sẽ giảm thiểu được tình trạng mất an toàn giao thông, từng bước nâng cao hiệu quả khai thác các tuyến đường sắt.

6. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri kiến nghị cần đầu tư và nâng cao năng lực, tăng cường duy tu, bảo dưỡng các tuyến vận tải đường thủy nội địa, ven biển, ngành vận tải biển của Việt Nam để nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại, góp phần hội nhập kinh tế sâu rộng trong khu vực và quốc tế”. 

Trả lời tại Công văn số 8262 /BGTVT-KHĐT ngày 30/8/2019

Trước tiên, Bộ GTVT trân trọng cảm ơn cử tri và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Long An đã quan tâm, góp ý nhằm giúp công tác quản lý của Bộ GTVT ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội và người dân. Về nội dung kiến nghị nêu trên, Bộ GTVT xin được trả lời như sau:

1. Về lĩnh vực đường thủy nội địa

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, thời gian qua, Bộ GTVT đã chú trọng công tác đầu tư kết cấu hạ tầng đường thủy. Bộ GTVT đã hoàn thành các dự án: Nâng cấp hai tuyến đường thủy phía Nam, Phát triển CSHT giao thông đồng bằng sông Cửu Long (dự án WB5), Nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo - Giai đoạn 1; Phát triển giao thông vận tải khu vực đồng bằng Bắc Bộ (dự án WB6), Nâng cấp tuyến vận tải thủy Việt Trì - Tuyên Quang, Nâng cấp tuyến vận tải thủy sông Gianh....

Do vậy, ngoài kinh phí sự nghiệp kinh tế được bố trí tăng hàng năm để bảo trì, duy tu đảm bảo năng lực vận tải, an toàn giao thông đường thủy nội địa, khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã có khoảng 1.082 km đường thủy chính được nâng cấp đạt cấp II - III, khu vực đồng bằng Bắc Bộ có khoảng gần 900 km đường thủy chính được nâng cấp đạt cấp II÷IV kỹ thuật, đã từng bước cải thiện và nâng cao năng lực vận tải, góp phần giảm tải cho hệ thống đường bộ, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội vùng và liên vùng.

Để tiếp tục phát triển năng lực vận tải đường thủy nội địa, trong thời gian tới, Chính phủ chỉ đạo Bộ GTVT và các bộ, ngành liên quan khẩn trương triển khai những nhiệm vụ sau:

- Hoàn thành Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 995/QĐ-TTg ngày 09/8/2018.

- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Quyết định số 47/2015/QĐ-TTg ngày 05/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển giao thông vận tải đường thủy nội địa; công tác bảo trì, duy tu, bảo đảm an toàn giao thông các tuyến đường thủy nội địa quốc gia theo kế hoạch bố trí vốn hàng năm.

- Triển khai một số dự án đầu tư quan trọng trong lĩnh vực đường thủy nội địa như: dự án Phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam; dự án Nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo - Giai đoạn 2...

- Tiếp tục kêu gọi, huy động các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư nâng cấp nhằm từng bước đưa vào cấp kỹ thuật các tuyến vận tải thủy chính; cải tạo một số cầu có tĩnh không thấp trên các tuyến, hành lang vận tải thủy chính như cầu Măng Thít, cầu Đuống… để giải tỏa các điểm nghẽn và nâng cao năng lực vận tải thủy.

2. Về vận tải biển, ven biển

2.1. Về vận tải ven biển

Từ năm 2014, Bộ GTVT đã công bố các tuyến vận tải ven biển cho tàu VR-SB từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, từ Quảng Bình đến Bình Thuận, từ Kiên Giang đến Bình Thuận. Các tuyến vận tải thủy ven biển đã khai thác có hiệu quả. Đến nay, đội tàu SB đã lên đến khoảng hơn 1.800 chiếc; sản lượng năm 2018 đạt hơn 30 triệu tấn, góp phần giảm tải cho hệ thống đường bộ, hỗ trợ gom/rút hàng cho hệ thống cảng biển và làm giảm chi phí vận tải.

2.2. Về vận tải biển

- Tính đến tháng 6/2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.568 tàu (trong đó tàu vận tải 1.106 tàu) với tổng dung tích khoảng 4,8 triệu GT và tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu tấn. Theo số liệu thống kê của Diễn đàn Thương mại và phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), đội tàu Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Indonesia, Malaysia) và thứ 30 trên thế giới. Trong đó, số lượng tàu hàng tổng hợp có 735 tàu; tàu chở hàng rời có 99 tàu, tàu chở dầu có 156 tàu; tàu chuyên dụng khí hóa lỏng có 18 tàu chiếm 1,4%; đội tàu công ten nơ có 39 tàu.

Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam trong thời gian qua đã có bước cải thiện đáng kể, đã phát triển theo hướng chuyên dụng hóa, đáp ứng được nhu cầu vận tải hàng hóa trong nước. Đội tàu công ten nơ tăng từ 19 tàu trong năm 2013 lên 39 tàu năm 2019, tăng bình quân gần 20%/năm nhưng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu vận tải nội địa và vận tải hàng feeder tại một số nước trong khu vực, chưa tăng được thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu. Đội tàu dầu, khí hóa lỏng tăng 13,5% so với năm trước.

- Về tuổi tàu: Đội tàu Việt Nam đã được trẻ hóa trong thời gian qua do đã được tái cơ cấu đội tàu, số lượng tàu được đầu tư mới tăng lên. Tuổi bình quân đội tàu nước ta là 15,6 tuổi, trẻ hơn 5,2 tuổi so với thế giới (theo số liệu của UNCTAD, tuổi tàu bình quân của thế giới là 20,8 tuổi); cụ thể, tuổi đội tàu hàng tổng hợp 14,2 tuổi; tàu khí hóa lỏng 22,9 tuổi, tàu công ten nơ 16,3 tuổi, tàu dầu hóa chất 16,4 tuổi.

- Về khối lượng hàng thông qua cảng biển do đội tàu Việt Nam vận chuyển 6 tháng đầu năm  đạt 81,2 triệu tấn tăng 16% so với cùng kỳ năm 2018 trong đó khối lượng hàng công ten nơ thông qua cảng của đội tàu biển Việt Nam ước đạt 1,2 triệu TEUs tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Đội tàu mang cờ Việt Nam hiện đã đảm nhận được gần 100% lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển, trừ một số tàu chuyên dụng như LPG, xi măng rời… Hàng hóa vận chuyển nội địa chủ yếu là các mặt hàng gia dụng, lương thực, than, vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc, công ten nơ, xăng dầu, hàng hoá tổng hợp… Đối với vận tải biển quốc tế hiện đang đảm nhận vận chuyển khoảng 7% thị phần và chủ yếu vận tải các tuyến gần như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, khu vực Đông Nam Á, đội tàu công ten nơ Việt Nam hoạt động chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn Đông Nam Á và Đông Bắc Á, một số tàu hàng rời đã vận tải hàng hóa trên các tuyến Châu Âu.

Như vậy, lĩnh vực vận tải biển, ven biển của nước ta những năm vừa qua đã và đang phát triển mạnh mẽ, lượng hàng thông qua cảng biển do đội tàu Việt Nam vận chuyển luôn tăng trưởng ổn định ở mức cao, đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế của đất nước, góp phần khẳng định tự do hàng hải tại khu vực, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia có biển, đảo. Cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới đối với lĩnh vực hàng hải và việc thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả của các Bộ, ngành, địa phương Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ngành vận tải biển, ven biển của nước ta sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, ổn định trong thời gian tới, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển và hội nhập với kinh tế quốc tế.

CÁC TIN BÀI KHÁC:

Xem tin theo ngày

Ngày
thông tin cần biết
Lịch tiếp xúc cử tri trước kỳ họp thứ 10 - Quốc hội khóa XIV của Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh



Kế hoạch khảo sát tình hình thực hiện Luật thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020; những kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, khen thưởng



Kế hoạch giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 01/01/2016 đến 30/6/2020



Kế hoạch giám sát tình hình thực hiện Luật thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 01/01/2016 đến 30/6/2020



Nghị quyết Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020


Hình ảnh hoạt động
Số lượt truy cập
06434603




                                             Trụ sở Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

                                             2Bis Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM
                                             ĐT: 028.38295353 - Fax: 028.38291574
                                             Email:
vpddbqh@tphcm.gov.vn - hcm@qh.gov.vn